Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 175/2024/HS-ST

Ngày: 22-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Triều

Bà Thi Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Kỳ Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/HSST ngày 16/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1216/2024/QĐST-HS ngày 11/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 4473/2024/HSST-QĐ ngày 09/4/2024 đối với bị cáo:

Trần Anh T; sinh năm 1992, tại: tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không: quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Anh P và bà: Nguyễn Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: sử dụng trái phép chất ma túy do Công an huyện H và Công an Q lập hồ sơ xử lý hành chính và đưa đi cai nghiện bắt buộc vào năm 2020, 2021 tại cơ sở cai nghiện ma túy P, tỉnh Bình Phước.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/9/2022. Có mặt.

Bị hại:

  1. Ông Santiago Alberto C, sinh năm: 1986, quốc tịch: Argentina. Nơi ở: F G, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  2. Bà Lý Thanh T1, sinh năm: 2003; nơi cư trú: D T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm: 2003; nơi cư trú: 23/35-37 M, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1982; nơi cư trú: 4 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  5. Ông Huỳnh Thanh P1, sinh năm: 2003; nơi cư trú: 107/6/47/9 đường số C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  6. Ông Trần Minh T2, sinh năm: 2003; nơi cư trú: 1 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm: 2002; nơi cư trú: 1 L, Phường G, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 23 giờ 00 phút ngày 15/9/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an quận B phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Q, kiểm tra hành chính 03 đối tượng: Trần Anh T điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, màu xanh bạc, biển số: 61D1- 890.98 chở Lê Văn V, Nguyễn Trung H1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream màu đen, biển số 52H1-2363 tại trước nhà số C P, phường Đ, Quận A, phát hiện trong túi áo của Trần Anh T có 02 mũi đoản bằng kim loại dùng để phá khoá xe máy và 01 cần tự động (cờ lê tự động) chuyên dùng để mở khóa xe nhưng chưa sử dụng nên tổ kiểm tra đưa 03 đối tượng về trụ sở Công an làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Anh T khai nhận: Khoảng đầu năm 2020, T quen biết với các đối tượng có tên thường gọi là N, D, B (chưa rõ lai lịch) nên rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán chia nhau tiêu xài. Cụ thể các vụ như sau:

Vụ thứ 1: Vào ngày 10/8/2022, do không có tiền mua ma túy và tiêu xài nên Trần Anh T gọi điện rủ N (chưa rõ lai lịch) đi trộm cắp xe máy, T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Luvias, biển số 59P1-110.90 của T đến đón N ở cầu B rồi đi qua các tuyến đường ở quận B. Đến khoảng 04 giờ ngày 11/8/2023, khi đi đến cửa hàng T5 dưới chân Cầu Đ N, Phường B, quận B, T nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển số: 84E1- 269.05 của bà Nguyễn Thị Bích P2, do chị Lý Thanh T1 đang sử dụng, dựng trước cửa hàng, không có người trông coi nên T xuống xe đi bộ đến, dùng đoản bẻ khóa cổ xe rồi chạy xe đi về hướng Phạm Văn Đ1, khi đến đường số C thuộc thành phố T, T liên hệ với người bán xe nhưng không có người mua nên chạy xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số: 84E1- 269.05 trộm cắp được đến tiệm cầm đồ Phạm Gia của ông Phạm Minh N1 (địa chỉ A N, ấp T, xã T, huyện H) cầm xe với giá 2.500.000 đồng. T chia cho N 1.000.000 đồng. Đối với chị T1, sau khi phát hiện mất xe đã đến Công an P3, quận B trình báo.

Vụ thứ 2: Khoảng hơn 04 giờ ngày 19/8/2022, T sử dụng xe mô tô (không nhớ biển số) đến cầu B rủ N đi trộm cắp xe gắn máy. Đến hơn 06 giờ cùng ngày, T chở N đến Công viên H, đường H thuộc Phường B, quận T, T và N vào Công viên ngồi, T phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ biển số 47P1- 064.38 của chị Nguyễn Thị Thanh M dựng xe gần chỗ T ngồi. T kêu N che chắn, rồi T dùng chìa khóa đem theo trong người, mở khóa xe rồi cùng với N chạy về hướng cây xăng mũi tàu. Sau đó, T và N đem chiếc xe trên cầm ở Tiệm cầm đồ Phạm G được 2.500.000 đồng, T cho N 1.000.000 đồng, có làm giấy tờ cầm xe.

Vụ thứ 3: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/8/2023, T đi bộ đến công viên L, phường Đ, Quận A thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 59S1-970.00 của bà Hồ Thị B1 (vợ ông Nguyễn Thanh B), ông Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô dựng trước công viên, không người trông coi, T đi bộ đến, dùng bộ đoản có sẵn trong người bẻ khóa cổ xe rồi điều khiển xe chạy thoát. Sau khi lấy trộm được xe, T mở cốp xe lục tìm tài sản thì phát hiện bên trong cốp xe có 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 59S1-970.00 mang tên Hồ Thị B1, 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân đều mang tên Nguyễn Thanh B. T vứt bỏ 02 giấy tờ này. Sau đó, T mang Giấy đăng ký xe và xe mô tô trộm cắp được mang đến tiệm C1 tại địa chỉ 3 N, xã B, huyện H, cầm được 5.000.000 đồng và tiêu xài hết, có giữ giấy cầm xe. Đến tối ngày 15/09/2022, khi bị Công an quận B kiểm tra, phát hiện giấy cầm xe mô tô trên và đã thu hồi. Đối với ông Nguyễn Thanh B sau khi phát hiện mất xe đã đến Công an phường Đ, Quận A trình báo.

Vụ thứ 4: Khoảng 18 giờ ngày 06/9/2022, anh Huỳnh Thanh P1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 78C-368.16 đến cửa hàng T5 địa chỉ B N, Phường B, quận B để mua đồ. Một lúc sau, T cùng B (chưa rõ lai lịch) lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius của anh P1. Sau đó T đưa xe cho Bình bán ở huyện H được 3.500.000 đồng và chia cho T 1.500.000 đồng. Ông Huỳnh Thanh P1 đến Công an P3, quận B trình báo bị trộm.

Vụ thứ 5: Vào ngày 13/9/2022, T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (không nhớ rõ biển số) chở N tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi phát hiện xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 61D1-890.98 của ông Santiago Alberto C (Quốc tịch A) dựng bên hông Trung tâm Thương mại V1 (địa chỉ số A Xa lộ H, phường T, thành phố T) không người trông coi, nên T đã trực tiếp dùng đoản bẻ khóa trộm cắp xe mô tô Winner biển số 61D1-890.98, còn N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius đứng gần để cảnh giới và hỗ trợ T. Sau đó T và N đưa đến tiệm cầm đồ Phạm Gia của ông Phạm Minh N1 cầm được số tiền 6.000.000 đồng. Khi cầm xe T đưa cho ông N1 xem giấy đăng ký xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 61D1-890.98 mang tên Trần Thanh T3 đứng tên chủ sở hữu và nói với ông N1 xe của T mua lại của ông T3 nhưng do kẹt tiền nên cầm cố vài ngày. Sau khi ông N1 đồng ý cầm xe thì T xin lấy lại giấy đăng ký và nói để T đăng ký chạy Grap.

Vụ thứ 6: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/7/2022, anh Trần Minh T2 mượn của bà Bùi Thị Thu H (sinh năm: 2002; HKTT: Thôn I, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định) 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu trắng đỏ, biển số 77D1-258.00, điều khiển xe đến cửa hàng T5 số B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, anh T2 vào trong cửa hàng mua đồ. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, T2 cùng D (chưa rõ lai lịch) lấy trộm xe, D là người trực tiếp trộm xe và đem đi bán được 3.000.000 đồng, D chia cho T2 1.300.000 đồng. Sau khi bị mất trộm xe, anh T2 do bận việc về quê nên đến ngày 16/9/2022 anh T2 mới lên trình báo Công an P3, quận B.

Theo Kết luận định giá số 202-KV1/KLĐG-HHĐGTS ngày 22/9/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T: xe mô tô hiệu Honda Winner 2018 màu đen biển số 61D1-890.98 trị giá 25.333.000 đồng.

Theo Kết luận định giá số 49/KLĐGTS-TCKH ngày 21/3/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận B:

  • - 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 47P1-064.38 trị giá 8.500.000 đồng;
  • - 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 59S1-970.00 trị giá 11.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 216/KLĐGTS-TCKH ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B: xe mô tô hiệu Yamaha sirius biển số 84E1-269.05 trị giá 10.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá số 135/KLĐGTS-TCKH ngày 21/3/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 47P1-064.38 đã qua sử dụng trị giá 8.500.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 323/KL-HĐĐGTS ngày 19/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A: xe mô tô hiệu Yamaha loại sirius, màu đỏ, đen, biển số 59S1-970.00 trị giá 8.500.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 11/KLĐGTS-TCKH ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B:

  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 78C-368.16 trị giá 11.000.000 đồng;
  • - 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu trắng đỏ, biển số 77D1-258.00 trị giá là 10.000.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản mà bị can Trần Anh T chiếm đoạt được qua các vụ trộm cắp là 76.833.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Xe Honda Winner biển số 61D1-890.98 của ông Santiago Alberto C, đã trao trả bị hại;
  • - Xe mô tô Yamaha Sirius biển số 84E1-269.05 của bà Nguyễn Thị Bích P2 (con gái Lý Thanh T1 sử dụng), đã trả lại cho bị hại;
  • - Xe mô tô Yamaha Sirius biển số 47P1-064.38 của bà Nguyễn Thị Thanh M, đã thu hồi trả bị hại;
  • - Xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59F1-970.00 của ông Nguyễn Thanh B, đã trả lại cho bị hại;
  • - 02 mũi đoản bằng kim loại; 01 cần tự động dùng phá khóa xe mô tô;
  • - 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, thu giữ của T;
  • - 01 giấy cầm đồ ghi ngày 02/9/2022 của dịch vụ cầm đồ Bảo Toàn;
  • - 01 Hợp đồng ghi ngày 19/8/2022 của dịch vụ cầm đồ Phạm Gia .

Tài sản chưa thu hồi được:

  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 78C1-368.16 của ông Huỳnh Thanh P1 trị giá 11.000.000 đồng.
  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 77D1-258.00 của ông Trần Minh T2 trị giá 10.000.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự:

  • - Ông Trần Minh T2 bị mất trộm xe mô tô Yamaha Sirius biển số 77D1- 258.00 chưa thu hồi được. Yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng như kết luận định giá.
  • - Ông Huỳnh Thanh P1 bị mất xe mô tô Yamaha Sirius biển số 78C1- 368.16 chưa thu hồi được. Yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000 đồng như trong kết luận định giá tài sản.

Đối với các đối tượng N, D và B là đồng phạm với T2, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi phạm tội của N, D và B, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với các đối tượng Lê Văn V và Nguyễn Trung H1, là người đi chung với T2 vào ngày 15/9/2022, qua điều tra xét thấy chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với Đỗ Văn T4 và Phạm Minh N1 là các chủ tiệm cầm đồ, đã cầm xe của T2, qua xác minh như sau:

  • - Bị cáo T2 khai: khi trộm cắp được các xe mô tô, T2 không biết chỗ tiêu thụ nên trên đường di chuyển T2 ghé vào các tiệm cầm đồ để cầm cố. Khi đến cầm xe, T2 nói cho các chủ tiệm xe là xe mua bằng giấy tờ viết tay nhưng đã bị thất lạc, cầm vài ngày sẽ chuộc lại và không nói cho các chủ tiệm cầm đồ biết các xe mô tô mà T2 mang tới cầm là tài sản do trộm cắp mà có.
  • - Lời khai của T2 phù hợp với lời khai của Đỗ Văn T4 và Phạm Minh N1, là 02 chủ tiệm cầm đồ đã cầm xe của T2. Khi giao dịch, các anh có kiểm tra máy xe không thấy có dấu hiệu bị đục, cà số khung, số máy, trùng khớp với số khung, số máy trên giấy đăng ký xe mô tô, có lập hợp đồng cầm cố, thế chấp thời hạn 01 tháng, lãi suất 150.000/1 tháng, sao chụp lại căn cước công dân của Trần Anh T để vào hồ sơ cầm cố, có thu phí giữ xe là 100.000 đồng, nên anh T4 và anh N1 không biết các xe mô tô trên là tài sản do T trộm cắp mà có. Khoảng hơn 01 tháng sau, Công an quận B đến Công an xã B và thông báo cho anh T4 biết xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius 59S1-970.00 là xe do Trần Anh T trộm cắp được mà có nên các anh T4 và N1 tự nguyện giao nộp các xe mô tô trên và toàn bộ giấy tờ liên quan cho Công an quận B và không yêu cầu T bồi thường thiệt hại.

Với tài liệu, chứng cứ thu thập được, hiện không đủ căn cứ để xử lý Phạm Minh N1 và Đỗ Văn T4 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Tại bản cáo trạng số 120/QĐ-VKS-P2 ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã truy tố để xét xử đối với bị cáo Trần Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án và trình bày lời luận tội, đánh giá về tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết định khung, tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật.

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho ông Trần Minh T2 số tiền 10.000.000 đồng, cho ông Huỳnh Thanh P1 số tiền 11.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng là đồ vật, tài sản theo quy định của pháp luật.

Các bị hại ông Huỳnh Thanh P1 và Trần Minh T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền như định giá đã nêu.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Trần Anh T tại phiên tòa, đối chiếu lời khai nhận bị cáo Trần Anh T tại Cơ quan điều tra là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: T quen biết với các đối tượng có tên N, D, B (chưa rõ lai lịch), do muốn có tiền tiêu xài nên rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau. Bị cáo T cùng các đối tượng đã thực hiện 06 vụ trộm cắp xe gắn máy trên địa bàn quận B, thành phố T, quận T và Quận A. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất, bị cáo T thực hiện cùng đối tượng N, vào khoảng 04 giờ ngày 11/8/2023, tại cửa hàng T5 số B N, Phường B, quận B, phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển số: 84E1- 269.05 của bà Lý Thanh T1 không có người trông coi nên bị cáo T xuống xe đi bộ đến, dùng đoản sắt bẻ khóa cổ xe, nổ máy rồi chạy xe đi, mang cầm cố được 2.500.000 đồng, bị cáo hưởng lợi 1.500.000 đồng và tiêu xài hết.

Vụ thứ 2, bị cáo T thực hiện cùng đối tượng N, vào khoảng 06 giờ ngày 19/8/2022, khi đến Công viên H, đường H thuộc Phường B, quận T, T và N vào Công viên tiếp cận chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ biển số 47P1- 064.38 của chị Nguyễn Thị Thanh M không có người trông coi, T kêu N che chắn và dùng đoản khóa đem theo trong người, mở khóa xe nổ máy rồi cùng với N chạy đi, mang cầm cố được 2.500.000 đồng, bị cáo hưởng lợi 1.500.000 đồng và tiêu xài hết.

Vụ thứ 3, bị cáo tự mình thực hiện, khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 28/8/2023, bị cáo T đi bộ đến Công viên L, phường Đ, Quận A thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 59S1-970.00 của ông Nguyễn Thanh B, không người trông coi, T đi bộ đến, dùng bộ đoản sắt có sẵn trong người bẻ khóa cổ xe, nổ máy điều khiển xe chạy thoát, bị cáo đã cầm cố được 5.0000.000 đồng và tiêu xài hết.

Vụ thứ 4, bị cáo thực hiện cùng đối tượng B, khoảng 18 giờ ngày 06/9/2022, khi đến đến cửa hàng T5 địa chỉ B N, Phường B, quận B, phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 78C-368.16 của anh Huỳnh Thanh P1 không có người trông coi, bị cáo thực hiện hành vi dùng bộ đoản sắt trộm cắp xe và tẩu thoát. Sau đó, bị cáo đưa xe cho Bình bán được 3.500.000 đồng và bị cáo hưởng 1.500.000 đồng và tiêu xài hết.

Vụ thứ 5, bị cáo T thực hiện cùng đối tượng N, vào ngày 13/9/2022, T chở N tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi phát hiện xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 61D1-890.98 của ông Santiago Alberto C, dựng bên hông Trung tâm Thương mại V1, thành phố T, không người trông coi nên T đã trực tiếp dùng đoản sắt bẻ khóa trộm cắp xe, còn N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius đứng gần để cảnh giới và hỗ trợ T. Sau đó T và N cầm đồ cầm được số tiền 6.000.000 đồng và tiêu xài hết.

Vụ thứ 6, bị cáo T thực hiện cùng đối tượng D, vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/9/2022, phát hiện 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu trắng đỏ, biển số 77D1-258.00 đậu tại cửa hàng T5 số B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, không có người trông coi, D là người trực tiếp lấy trộm xe, bị cáo T giúp sức. Sau đó, D đem đi bán được 3.000.000 đồng, bị cáo T được chia 1.300.000 đồng và tiêu xài hết.

Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt được là 76.833.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Trần Anh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”; bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản liên tục trên 05 lần, với mỗi lần đều cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không có nghề nghiệp, lấy tiền từ việc trộm cắp xe đem cầm cố để sinh sống, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “Có tính chất chuyên nghiệp”, là những tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị, nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù thật nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản 06 lần, với mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đều cấu thành tội phạm, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử đối với bị cáo Trần Anh T về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo Trần Anh T là có căn cứ.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Minh T2 và ông Huỳnh Thanh P1 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá xe gắn máy bị cáo trộm cắp, hiện không thu hồi được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của các bị hại là có cơ sở, cần buộc bị cáo bồi thường cho ông Trần Minh T2 số tiền 10.000.000 đồng, cho Ông Huỳnh Thanh P1 số tiền 11.000.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 02 mũi đoản bằng kim loại; 01 cần tự động dùng phá khóa xe mô tô là dụng cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo, xét thấy bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 giấy cầm đồ ghi ngày 02/9/2022 của dịch vụ cầm đồ Bảo Toàn; 01 Hợp đồng ghi ngày 19/8/2022 của dịch vụ cầm đồ Phạm G, là chứng cứ của vụ án, có thể lưu hồ sơ nên lưu trong hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 2; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: bị cáo Trần Anh T 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022.

[2] Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự:

Buộc bị cáo bồi thường cho ông Trần Minh T2 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng

Buộc bị cáo bồi thường cho ông Huỳnh Thanh P1 số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 mũi đoản bằng kim loại; 01 cần tự động dùng phá khóa xe mô tô.
  • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu N2 màu đen (...0644, đã cũ, không pin, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - Chuyển lưu vào hồ sơ vụ án: 01 giấy cầm đồ ghi ngày 02/9/2022 của dịch vụ cầm đồ Bảo Toàn; 01 hợp đồng ghi ngày 19/8/2022 của dịch vụ cầm đồ Phạm Gia.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/216 ngày 18/3/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

[4] Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.050.000 (một triệu không trăm năm mươi ngàn) đồng.

[5] Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (6)
  • - NCQLNVLQ; (1)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đức Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 175/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Anh T 04 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger