|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 175/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Sơn và bà Trần Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024:
Điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm các bị cáo:
-
Chìu Hồ V, sinh năm 2004, tại Đồng Nai. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp S, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chìu Cắm D, sinh năm: 1973 và bà L Sau L1, sinh năm 1977ồngH; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2024 cho đến nay.
-
Nguyễn Tấn P, sinh năm 2005, tại Đồng Nai. (có mặt)
Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Ỗ (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1980; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2024 cho đến nay.
-
Trần Trọng T1, sinh năm 1981, tại Đồng Nai. (có mặt)
Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Công T2 (đã chết) và bà Hồ Thị C, sinh năm: 1961; Có vợ là Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1983; Con: 04 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: 02.
- Ngày 18/11/2004, Trần Trọng T1 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử tù có thời hạn 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo bản án số 628/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Đ xong ngày 19/10/2010.
- Ngày 26/09/2012, Trần Trọng T1 bị Tòa án Nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xử tù có thời hạn 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 23/2012/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Đ xong ngày 08/9/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2024 cho đến nay.
Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm:
- Bị hại:
-
Ông Lê Văn T3, sinh năm: 1978
HKTT: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên;
Địa chỉ liên lạc: tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
-
Bà Trịnh Thị Thu K, sinh năm: 1994.
Địa chỉ liên lạc: số F, phố B, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
-
Bà Lục Thị H, sinh năm: 1962
Địa chỉ: số B, phố D, ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Anh Ừng Tú B, sinh năm: 2008.
Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
-
Bà Nguyễn Thị Lan H1, sinh năm:1986.
Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
-
Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: địa chỉ: số C, phố F, ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
-
Bà Trần Thị Mỹ P1, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chìu H, Nguyễn Tấn P và Trần Trọng T1 là bạn bè quen biết xã hội.
Vào khoảng 01 giờ ngày 18/6/2024, do không có tiền tiêu xài, nên V rủ P đi trộm cắp tài sản, P đồng ý rồi cả hai đi bộ từ xã P đến thị trấn Đ tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, V và P phát hiện nhà anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1984, trú tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đang trong quá trình xây dựng, chưa gắn cửa nên nảy sinh ý định đột nhập vào trộm cắp tài sản, sau đó V phân công P đứng bên ngoài cảnh giới, còn V đi vào bên trong nhà phát hiện ông Lê Văn T3, sinh năm 1978, trú tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên đang nằm ngủ say, phía trên đầu ông T3 có để 01 chiếc điện thoại Samsung A13, màu đen (bên trong gắn 01 sim) nên V lén lút trộm cắp chiếc điện thoại trên rồi nhanh chóng đi ra ngoài cùng P tẩu thoát.
Sau khi trộm được chiếc điện thoại trên, P đi về nhà T1 ngủ còn V tiếp tục đi tìm kiếm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi P đi bộ đến phố B, ấp D, xã P, huyện Đ thì thấy một tiệm tạp hóa không khóa cửa, mọi người bên trong đã ngủ say nên P đi vào và phát hiện dưới gầm giường có một túi vải của chị Trịnh Thị Thu K, sinh năm 1994, trú tại khối D, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. Váy kiểm tra trong túi vải có 2.200.000 đồng nên đã lén lút trộm cắp toàn bộ số tiền này rồi tẩu thoát, đi về nhà T1 để ngủ. Số tiền trên Váy tiêu xài cá nhân hết và không cho ai biết.
Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, V và P mang điện thoại Samsung A13 trộm cắp được đi bán nhưng do không tìm được nơi bán cả hai cùng đi về lại nhà T1. Tại đây, V đưa điện thoại nhờ T1 đem bán và cho T1 biết điện thoại trên có được do trộm cắp mà có. Do không có tiền tiêu xài, T1 đồng ý và cầm điện thoại này nhờ Ừng Tú B, sinh ngày 05/9/2008, trú tại ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đem bán tại tiệm Đ1 thuộc ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai được 800.000 đồng, B đưa lại toàn bộ số tiền này cho T1. Khi đưa điện thoại cho B, T1 không nói cho B biết về nguồn gốc của điện thoại và B cũng không biết điện thoại này là tài sản do trộm cắp mà có. T1 dùng toàn bộ số tiền bán được điện thoại này trả tiền thuê nhà, không đưa lại cho V và P.
Đến khoảng 02 giờ ngày 29/6/2024, V tiếp tục rủ P đi trộm cắp tài sản, P đồng ý. Cả hai đi bộ trên đường tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, V và P phát hiện nhà bà Lục Thị H, sinh năm 1962, trú tại ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai không đóng cửa nên V phân công P đứng bên ngoài cảnh giới, V đi vào bên trong lén lút trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại OPPO A5 màu đỏ, số tiền 350.000 đồng, 01 dây chuyền kim loại màu vàng và 01 lắc tay kim loại màu vàng của bà H rồi nhanh chóng tẩu thoát cùng với P. Sáng cùng ngày, P và V nhờ T1 sử dụng lửa đốt sợi dây chuyền, lắc tay thấy bị đổi màu, cho rằng không phải vàng nên cả hai để sợi dây chuyền, lắc tay tại nhà của T1, hiện không rõ ở đâu. Sáng ngày 30/06/2024, V cùng P mang chiếc điện thoại OPPO A5 màu đỏ đến tiệm điện thoại “Kỷ Mỹ" địa chỉ ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để cầm đồ được 300.000 đồng, số tiền này và số tiền mặt 350.000đ trộm cắp được, V và P đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân.
Đến ngày 08/7/2024, biết hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên bị phát hiện nên Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P đã đến công an đầu thú, còn Trần Trọng T1 bị bắt tạm giam sau đó.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Chìu Hồ V, Nguyễn Tấn P và Trần Trọng T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.
* Tài sản thiệt hại:
- 01 điện thoại Samsung A13 màu đen, RAM 4GB, ROM 128GB.
- Số tiền 2.200.000 đồng.
- 01 điện thoại OPPO A5 màu đỏ RAM 3GB, ROM 32GB.
- Số tiền 350.000 đồng.
- 01 dây chuyền kim loại màu vàng và 01 lắc tay kim loại màu vàng.
Căn cứ Bản kết luận định giá số 37/KL-HĐĐGTS ngày 16/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung số loại A13, màu đen, RAM 4GB, ROM 128GB, bên trong có 01 sim điện thoại Mobifone số thuê bao 0784.003.312 trị giá 2.280.000 đồng, tại thời điểm định giá 18/06/2024.
Căn cứ Bản kết luận định giá số 38/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 (màu đỏ, RAM 3GB, ROM 32GB, bên trong có 01 sim điện thoại) trị giá 825.000 đồng tại thời điểm định giá tháng 06/2024.
Đối với sợi dây chuyền kim loại màu vàng và lắc tay kim loại màu vàng. Qua làm việc với bị hại bà H xác định dây chuyền kim loại màu vàng, lắc tay kim loại màu vàng không phải là vàng, không xác định được giá trị tài sản, không xác định được trọng lượng, kích thước nên không có căn cứ định giá tài sản.
Đối với 01 điện thoại Samsung A13 màu đen, RAM 4GB, ROM 128GB chưa thu hồi được, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng, đồng thời làm việc với chủ tiệm điện thoại L là bà Nguyễn Thị Lan H1, sinh 1986, trú tại ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai làm chủ, tuy nhiên không xác định được có hay không việc B đem bán điện thoại trên ở đây, tại thời điểm làm việc tại tiệm Đ1 không có chiếc điện thoại nào như trên. Nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm đối với bà H1.
Đối với 01 điện thoại OPPO A5 màu đỏ RAM 3GB, ROM 32GB đã được thu hồi và trao trả cho chủ sở hữu bà Lục Thị H.
Đối với số tiền 2.200.000 đồng và số tiền 350.000 đồng các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên không thu hồi được.
Đối với 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay kim loại màu vàng, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an các xã, thị trấn truy tìm nhưng chưa thu hồi được. Công an huyện Đ đã ra Quyết định truy tìm vật chứng, khi nào tìm được xử lý sau.
Đối với Ừng Tú B khi mang điện thoại đem bán giúp Trần Trọng T1 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm. Nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý đối với B.
Đối với anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1986, trú tại ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai là chủ tiệm Đ2, khi nhận cầm cố 01 điện thoại OPPO A5 từ Váy, anh không biết tài sản trên do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý đối với K1.
Sau khi sự việc xảy ra, đại diện gia đình bị cáo T1 là chị Trần Thị Mỹ P1, sinh năm 1991, trú tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ đã tự nguyện giao nộp số tiền 800.000 đồng là tiền bị cáo T1 thu lợi bất chính từ việc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà Nước.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản của bà Lục Thị H, sinh năm 1962, trú tại ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai vào ngày 29/6/2024 (gồm 01 điện thoại OPPO A5 màu đỏ, số tiền 350.000 đồng, 01 dây chuyền kim loại màu vàng và 01 lắc tay kim loại màu vàng), do tài sản thiệt hại dưới hai triệu đồng nên không truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi này đối với bị cáo V và P.
Trách nhiệm dân sự:
Các bị hại: Lê Văn T3, Trịnh Thị Thu K, Lục Thị H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn K1 - Chủ tiệm điện thoại Kỷ Mỹ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 322/CT-VKSĐQ ngày 29 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Trần Trọng T1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Chìu Hồ V từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trọng T1 từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 800.000 đồng; buộc các bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng vụ án và án phí.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo, thống nhất về xử lý vật chứng. Các bị cáo V, P tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 322/CT-VKSĐQ ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Chìu Hồ V, Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 và bị cáo Trần Trọng T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323, tội phạm và hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự là có căn cứ không oan sai cho các bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Chìu Hồ V có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Tấn P và Trần Trọng T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
* Về tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P có 02 tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Trọng T1 có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Riêng bị cáo T1 gia đình đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính và đang nuôi 04 con còn nhỏ là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, các bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Đối với bị cáo Trần Trọng T1 biết rõ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen là tài sản do các bị cáo V và P trộm cắp được mà có nhưng vẫn đồng ý đi bán dùm.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Trong vụ án này các bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được hậu quả của hành vi sai trái và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội, nhưng vì tham lam, vụ lợi mà các bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên cần phải cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo như sau: mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo V phải cao nhất vì bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên hình phạt đối với bị cáo thấp hơn bị cáo V nhưng cao hơn bị cáo T1.
[5] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với sợi dây chuyền kim loại màu vàng và lắc tay kim loại màu vàng. Qua làm việc với bị hại bà H xác định dây chuyền kim loại màu vàng, lắc tay kim loại màu vàng không phải là vàng, không xác định được giá trị tài sản, không xác định được trọng lượng, kích thước nên không có căn cứ định giá tài sản là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại Samsung A13 màu đen, RAM 4GB, ROM 128GB chưa thu hồi được, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng, đồng thời làm việc với chủ tiệm điện thoại L là bà Nguyễn Thị Lan H1, sinh 1986, trú tại ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai làm chủ, tuy nhiên không xác định được có hay không việc B đem bán điện thoại trên ở đây, tại thời điểm làm việc tại tiệm Đ1 không có chiếc điện thoại nào như trên. Nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm đối với bà H1 là có căn cứ.
Đối với 01 điện thoại OPPO A5 màu đỏ RAM 3GB, ROM 32GB đã được thu hồi và trao trả cho chủ sở hữu bà Lục Thị H nên không xem xét.
Đối với số tiền 2.200.000 đồng và số tiền 350.000 đồng các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên không thu hồi được.
Đối với 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay kim loại màu vàng, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an các xã, thị trấn truy tìm nhưng chưa thu hồi được. Công an huyện Đ đã ra Quyết định truy tìm vật chứng, khi nào tìm được xử lý sau.
Đối với Ừng Tú B khi mang điện thoại đem bán giúp Trần Trọng T1 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý đối với B là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1986, trú tại ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai là chủ tiệm Đ2, khi nhận cầm cố 01 điện thoại OPPO A5 từ Váy, anh không biết tài sản trên do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý đối với K1 là phù hợp
[6] Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
* Về trách nhiệm dân sự
Các bị hại ông Lê Văn T3, bà Trịnh Thị Thu K, bà Lục Thị H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn K1 - chủ tiệm điện thoại Kỷ Mỹ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không xem xét
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 800.000 đồng là tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Trần Trọng T1 có được.
- Các bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P phải nộp lại số tiền 2.850.000 đồng (là tiền thu lợi bất chính) để nộp ngân sách nhà nước. Cụ thể bị cáo V phải nộp lại số tiền 2.525.000 đồng, bị cáo P nộp lại số tiền 325.000 đồng.
[7] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của Viện kiểm sát:
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và các vấn đề khác trong vụ án, Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt.
òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chìu Hồ V;
- Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn P;
- Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Trọng T1;
- Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố
các bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Trần Trọng T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Xử phạt bị cáo Chìu Hồ V 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/7/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/7/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Trọng T1 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 10/8/2024.
2. Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 800.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0006033 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán).
- Buộc các bị cáo Chìu Hồ V và Nguyễn Tấn P phải nộp lại số tiền 2.850.000 đồng (là tiền thu lợi bất chính) để nộp ngân sách nhà nước. Cụ thể bị cáo V phải nộp lại số tiền 2.525.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng), bị cáo P nộp lại số tiền 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
3. Về án phí:
Các bị cáo Chìu Hồ V, Nguyễn Tấn P và Trần Trọng T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thịnh |
Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 175/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
