Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 175/2024/HS – ST

Ngày: 13-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Bạch Nhạn

Ông Huỳnh Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2024/TLST – HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lý Thành Đ, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1993; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý T và bà Triệu Thị T1; Bị cáo có vợ (Không có đăng ký kết hôn) và 02 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13 tháng 05 năm 2024 đến ngày 16 tháng 5 năm 2024 và chuyển sang tạm giam cho đến nay (Có mặt).

2. Trần Nghĩa T2, sinh ngày 24 tháng 09 năm 2003; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Khóm S, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T3 và bà Kim Thị O; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 05 năm 2024 đến ngày 15 tháng 5 năm 2024 và chuyển sang tạm giam cho đến nay (Có mặt).

3. Kim Sà P, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2003; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kim H và bà Sơn Thị H1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13 tháng 05 năm 2024 đến ngày 16 tháng 5 năm 2024 và chuyển sang tạm giam cho đến nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực đường N, khóm B, phường A, thành phố S, thường xuyên xuất hiện một số đối tượng có biểu hiện nghi vấn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố S kết hợp với Công an phường B, thành phố S tiến hành kiểm tra, xác minh và phục kích tại khu vực trên. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 5 năm 2024, Công an phát hiện Trần Nghĩa T2 điều khiển xe mô biển số 83P3-118.59, đang lưu thông trên đường N, khóm B, phường A, thành phố S, có dấu hiệu nghi vấn nên đã tiến hành yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trên mặt đường tại vị trí T dừng xe có 01 gói nylon trong được hàn kín bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, nghi vấn là ma túy nên đã tiến hành thu giữ và niêm phong, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T2.

Qua điều tra, được biết: Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 12 tháng 5 năm 2024, Kim Sà P và Lý Thành Đ đến nhà của Trần Nghĩa T2 tại ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, để chơi. Tại đây, Đ rủ T2 và P cùng nhau hùn tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng, thì T2 và P đồng ý. Đ, T2 và P thỏa thuận mỗi người bỏ ra 50.000 đồng, để mua ma túy và T2 là người đi mua ma túy. Sau khi thỏa thuận xong, T2 điều khiển xe mô tô biển số 83P3-118.59 chạy đến thành phố S, sau đó điều khiển xe đến căn Nhà số C, đường N, khóm B, phường A, thành phố S, gặp Nguyễn Thị Huỳnh H2, hỏi mua 150.000 đồng ma túy, thì được H2 đồng ý bán. Sau khi có ma túy, T2 cầm gói ma túy trên tay trái rồi điều khiển xe chạy về nhà, khi đi đến khu vực trước nhà số C, đường N, khóm B, phường A, thành phố S, thì bị Công an bắt, thu giữ gói ma túy Thân vừa mới mua.

Tại bản kết luận giám định số 84/KLGĐMT-KTHS, ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1541 gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tạm giữ: 01 gói niêm phong vụ số 84/2024, ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S, có chữ ký ghi họ tên giám định viên Phạm Thanh Trường S, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ1, Lâm Thùy D, Công an thành phố S Nguyễn Hồng Thanh T4 và 01 xe mô tô biển số 83P3 – 118.59, nhãn hiệu Wayec, màu sơn: Xanh, số máy: P52FMH613734, số khung: H6MM61613734.

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKS.TPST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo Lý Thành Đ, Trần Nghĩa T2, Kim Sà P về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng nêu trên; tuyên bố các bị cáo Lý Thành Đ, Trần Nghĩa T2, Kim S1 Phép phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự và xử phạt mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy 01 gói ma túy được niêm phong là vật cấm tàng trữ, mua bán theo quy định và trả lại 01 xe mô tô biển số 83P3 – 118.59, nhãn hiệu Wayec, màu sơn: Xanh, số máy: P52FMH613734, số khung: H6MM61613734 cho bị cáo Lý Thành Đ do không có liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thành phố S trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Thành Đ, Trần Nghĩa T2, Kim Sà P thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1541 gam, loại Methamphetamine như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố đối với các bị cáo và các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, do bản thân các bị cáo bị nghiện ma túy nên mua ma túy để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng.

Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/5/2024, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định số 84/KLGĐMT-KTHS, ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định: Các bị cáo Lý Thành Đ, Trần Nghĩa T2, Kim Sà P đã thỏa thuận, thống nhất với nhau mỗi người hùn 50.000 đồng để mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Vào khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 12 tháng 5 năm 2024, sau khi bị cáo Trần Nghĩa T2 mua gói ma túy của Nguyễn Thị Huỳnh H2 xong, chạy về đến khu vực trước nhà số C, đường N, khóm B, phường A, thành phố S thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang cùng với gói ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên của các bị cáo có đủ định lượng và yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, đã truy tố các bị cáo về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không làm oan, sai cho các bị cáo, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo phải biết rằng ma túy là chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân các bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác cho xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân các bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, mà còn xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Do đó, cần phải có một mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này có 03 bị cáo cùng tham gia nhưng các bị cáo không có sự phân công chặt chẽ nên không mang tính tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lý Thành Đ là người rủ rê bị cáo Trần Nghĩa T2 và bị cáo Kim Sà P, cùng thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo cùng thống nhất ý chí, cùng hùn tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng, nên được đánh giá vai trò ngang nhau khi xem xét lượng hình.

Tuy nhiên, trước khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc Khmer, có trình độ học vấn thấp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng lẽ ra các bị cáo phải chịu.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số 84/2024, ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S thu giữ của các bị cáo là vật cấm tàng trữ theo quy định. Trả lại cho bị cáo Lý Thành Đ 01 xe mô tô biển số 83P3 – 118.59, nhãn hiệu Wayec, màu sơn: Xanh, số máy: P52FMH613734, số khung: H6MM61613734 do không có liên quan đến hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện.

Đối với Nguyễn Thị Huỳnh H2 là người bán ma túy cho các bị cáo, hiện nay H2 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[3] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Thành Đ, Trần Nghĩa T2, Kim S1 Phép phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt bị cáo Lý Thành Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Nghĩa T2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.
  3. Xử phạt bị cáo Kim Sà P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số 84/2024, ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S (là ma túy) thu giữ của các bị cáo.
  • + Trả lại cho bị cáo Lý Thành Đ 01 (một) xe mô tô biển số 83P3 – 118.59, nhãn hiệu Wayec, màu sơn: Xanh, số máy: P52FMH613734, số khung: H6MM61613734.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng và Phiếu nhập kho cùng ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).

- Về án phí: Các bị cáo Lý Thành Đ, Trần Nghĩa T2, Kim Sà P là người bị kết án, nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP. Sóc Trăng;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THA DS TP Sóc Trăng;
  • - CQ.THA HS Công an TP Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Kim Sa Pha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS – ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự

  • Số bản án: 175/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Thành Đ và đồng bọn tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger