TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2024/HS-ST
Ngày 30/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế; Bà Nguyễn Thị Tám – Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2024/TLST-HS ngày 19/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 19/9/2024 đối với:
Bị cáo:
Nguyễn Quang C
, sinh ngày 25/7/2006; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang T và bà Hoàng Thị V; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Văn M
, sinh ngày 25/02/2007; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử M 20 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Hoàng Trường G
, sinh năm 2005; Nơi đăng ký HKTT: T, thôn C, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: Thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn S và bà Nghiêm Thị C1; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 164/QĐ-XPHC ngày 09 tháng 12 năm 2022, Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính đối với G về hành vi cố ý gây thương tích hoặc xâm hại sức khỏe người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bằng hình thức phạt tiền 3.250.000 đồng. Bị cáo đã nộp tiền phạt vào ngày 01/3/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Ngọc Tùng D
, sinh ngày 18/12/2007; Nơi đăng ký HKTT: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Trần Quang H1
, sinh ngày 16/01/2006; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H2 và bà Nguyễn Thị H3; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp của các bị cáo:
Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, là mẹ đẻ bị cáo. Có mặt.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Tùng D: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, là mẹ đẻ bị cáo. Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo:
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T2 Dương: Bà Phan Thị Thu H4 – Trợ giúp viên Pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang C, Nguyễn Văn M: Bà Nguyễn Thị H5 – Trợ giúp viên Pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn H6, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn khi đi chơi hội tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên khoảng 21 giờ ngày 05/3/2024 tại cửa nhà anh Trần Văn H6, anh Trần Ngọc H7 đã xảy ra việc đánh, cãi chửi nhau giữa các bị cáo Nguyễn Ngọc Tùng D, Nguyễn Văn M, Trần Quang H1, Hoàng Trường G và Nguyễn Văn C2. Bị cáo H1, D, G và M đánh nhau bằng chân tay không, còn C2 dùng dao đuổi đánh M. Các bị cáo vừa đánh nhau vừa chửi nhau trong khoảng thời gian khoảng 15 phút gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Vì vậy, ngày 15/3/2024, Công an xã T, Ủy ban nhân dân xã T và Trưởng thôn Đại Lâm có Công văn đề nghị Công an huyện Y xử lý các bị cáo trên theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ: Anh Trần Văn H6 đã giao nộp 01 thanh kim loại sáng màu dài khoảng 1m, tình trạng cong, méo bẹp.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 173/CT-VKSYP ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Nguyễn Quang C về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Ngọc Tùng D, Nguyễn Văn M, Trần Quang H1, Hoàng Trường G về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, Nguyễn Duy P1, Nghiêm Tiến D1, Nghiêm Đình K, Nguyễn Đăng Đ đi chơi hội tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y. Khi đến thôn Đ, nhóm của P1 gặp Nguyễn Đăng T3, Hoàng Trường G, Dương Văn L, Nguyễn Quốc A, Nguyễn Văn M đang đi chơi hội tại đây. Hai nhóm rủ nhau tiếp tục đi chơi hội tại thôn Đ, xã T, huyện Y. Khi nhóm của P1, G (bao gồm P1, H8, D1, Á, K, Được, Quốc A, M, T3, G, L) đi đến trước cửa nhà anh Trần Văn H6, thì nghe thấy trong nhóm thanh niên đứng ở cửa nhà anh H6 nói vọng ra: “bọn Chờ đấy, đ.mẹ bọn Chờ”. Sau đó P1, K, T3 dừng xe rồi P1, Đ, G chạy quay lại trước cửa nhà anh H6, P1 hỏi: “ai vừa nói”. Lúc này, Nguyễn Trọng A1 đứng ra nói chuyện thì bị P1, Đ và G dùng chân tay không đánh. Sau khi thấy có đánh nhau, người dân đã ra can ngăn nên Đ, P1 và G không đánh A1 nữa mà tiếp tục đi đến hội thôn Đ chơi.
Nhóm của P1 chơi hội khoảng 15 phút rồi đi về, đến trước cửa nhà anh H6 đoạn đường đê sông C thuộc địa phận thôn Đ, M nhìn thấy Trần Quang H1 chở Đặng Ngọc Đ1, Nguyễn Ngọc Tùng D, M chửi Hiện: “chúng mày nhìn cái gì”, H1 chửi lại: “tao có mắt thì tao nhìn”, thấy M chửi nhau với H1 nên T3 và L dừng xe cho G, M xuống xe rồi điểu khiển xe đi đến chỗ Được, D1, K, Quốc A, Á, H8 đang đợi cách cửa nhà anh H6 từ 5m đến 7m. G, M xông vào đánh D, Hiện bằng chân tay không. Lúc này, Nguyễn Quang C đang đứng ở cửa nhà anh H6 nghe thấy có người nói nhóm của M và G đang đánh H1 và D nên C bức xúc, cầm 01 con dao (loại dao thái dài khoảng 30 cm, một lưỡi, tối màu) ở cửa nhà anh H6 chạy phía sau và chém một cái về phía M nhưng không trúng. Sau đó C vứt dao ở ven đường và tiếp tục đuổi theo M. Thấy C đuổi M, H1 và D chạy theo C khoảng 15m về hướng thành phố B thì được người dân can ngăn nên dừng lại. Lúc này G đi đến nhà anh H6. Hiện, D, C quay lại nhà anh H6 thì thấy G đang đứng ở đây nên D và H1 xông vào dùng chân tay không đánh G, C dùng dép đánh G. Người dân thấy G bị đánh nên đưa G vào nhà anh Trần Ngọc H7 để tránh và đóng cửa cuốn lại. Cùng lúc đó M chạy được khoảng 100m thì không thấy G chạy ra nên M gọi P1, Đ và D1 quay lại để cứu G ra. D1 nhặt một đoạn kim loại hình trụ tròn sáng màu, dài khoảng 1m, nhặt ở trước cửa nhà dân bên đường, Được nhặt một viên gạch vỡ ở ven đường quay lại chỗ D. Lúc này D đang đứng trước cửa nhà anh H7. P1 và M xông vào dùng chân, tay không, D1 dùng gậy kim loại, Đ dùng gạch cùng nhau đánh vào người của D làm D bị ngã ra đường. Sau đó M, P1, Đ, D1 tiếp tục đánh vào phần đầu, mặt, người, tay, chân của D khoảng 15 phút thì được mọi người can ngăn nên M, P1, Đ, D1 đi về còn D được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 05/3/2024 đến ngày 08/3/2024. D từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Đại diện hợp pháp của các bị cáo: Đều nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật. Bố mẹ cũng có lỗi trong việc chăm sóc, giáo dục các bị cáo chưa sát sao, kịp thời. Các bị cáo tuổi còn trẻ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên đề nghị hội đồng xét xử tạo điều kiện cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được cải tạo tại địa phương, tiếp tục học tập để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Người bào chữa cho các bị cáo: Đều nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật. Các bị cáo tuổi còn trẻ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên đề nghị hội đồng xét xử tạo điều kiện cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được cải tạo tại địa phương, tiếp tục học tập để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo M đề nghị được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình, có cơ hội sửa chữa những sai lầm của mình trở thành công dân có ích cho xã hội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh H6 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai tại Cơ quan điều tra khai nhận: Khi các bị cáo đánh nhau trước cửa nhà, anh đã nhặt được thanh kim loại và giao nộp cho cơ quan điều tra, anh không có yêu cầu gì, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang C, Nguyễn Ngọc Tùng D, Nguyễn Văn M, Trần Quang H1, Hoàng Trường G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Quang C từ 18 đến 20 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 56; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn M từ 16 đến 18 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án từ 36 đến 38 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/04/2024 đến ngày 10/04/2024.
Xử phạt Hoàng Trường G từ 14 đến 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Ngọc T2 Dương từ 12 đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trần Quang H1 từ 12 đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho UBND nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại.
Lưu trong hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp và người bào chữa của các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 21 giờ ngày 05/3/2024 tại cửa nhà anh Trần Văn H6, anh Trần Ngọc H7 ở thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã xảy ra việc đánh, cãi chửi nhau giữa các bị cáo Nguyễn Ngọc Tùng D, Nguyễn Văn M, Trần Quang H1, Hoàng Trường G và Nguyễn Văn C2. Bị cáo H1, D, G và M đánh nhau bằng chân tay không, còn C2 dùng dao đuổi đánh M. Các bị cáo vừa đánh nhau vừa chửi nhau trong khoảng thời gian khoảng 15 phút gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Quang C phạm tội “Gây rối trật công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Văn M, Hoàng Trường G, Nguyễn Ngọc Tùng D, Trần Quang H1 phạm tội “Gây rối trật công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng; xâm phạm đến hoạt động đi lại, vui chơi nguyên tắc an toàn nơi công cộng tại nơi có nhiều người qua lại. Ngoài ra, còn làm ảnh hưởng đến việc thực hiện những đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong quá trình ổn định đời sống của người dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho từng bị cáo nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, trừ bị cáo Nguyễn Văn M đã bị xét xử 20 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng, Hoàng Trường G đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D, H1 và G phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo C có ông nội được tặng huy chương kháng chiến, trong thời gian sinh sống tại địa phương có nhiều đóng góp như ủng hộ quỹ đền đơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, tích cực tham gia đắp đê, phòng chống bão lũ vừa qua có xác nhận của địa phương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo M đã bị xét xử về tội gây rối trật tự công cộng, bản án đã có hiệu lực pháp luật nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Đối với các bị cáo C, D và Hiện có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, bị cáo D chưa đủ 18 tuổi, bị cáo C khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng giúp các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo G năm 2022 đã bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích khi chưa đủ 18 tuổi, đã chấp hành quyết định và được xóa tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã nhận lỗi lầm của mình, có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng giúp bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Các bị cáo, trừ bị cáo G và H1 đã đủ 18 tuổi, còn lại các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đều đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên mức hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo bằng ¼ mức hình phạt tù mà điều luật quy định.
Bị cáo M đã bị xét xử 20 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng tại Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Bản án đã có hiệu lực pháp luật nên phải tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án.
[6] Về vật chứng: Anh H6 giao nộp thanh kim loại, không có yêu cầu gì và thanh kim loại không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Liên quan trong vụ án này có Nguyễn Duy P1, Nghiêm Tiến D1 và Nguyễn Đăng Đ có hành vi tụ tập dùng chân tay, gậy, gạch đánh nhau. Tuy nhiên các đối tượng trên chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, ngày 14/8/2024 Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính “cảnh cáo” đối với các đối tượng trên về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang C, Nguyễn Ngọc Tùng D, Nguyễn Văn M, Trần Quang H1, Hoàng Trường G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Quang C 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 56; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn M 10 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 20 tháng tù của Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/04/2024 đến ngày 10/04/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Hoàng Trường G 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Ngọc T2 Dương 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trần Quang H1 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo C và bị cáo H1 cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo G cho UBND xã P, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo D cho UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 9 năm 2024).
Các bị cáo C, M, G, D và Hiện mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 175/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang C có đồng phạm gây rối trật tự công cộng
