Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2024

Về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giang Thành

2. Bà Lê Thị Vân Anh

- Thư ký ghi biên bản: Bà Đinh Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất: không tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 330/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 2002 (có mặt)
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phong S, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn ly hôn và tại phiên toà sơ thẩm, chị Phạm Thị Mỹ L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Phong S quen biết và đi đến hôn nhân năm 2022, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 22/6/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị phát hiện ra nhiều khuyết điểm của nhau và bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn trong cuộc sống chung. Đến nay cả hai không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa.

Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

  • Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phong S.
  • Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Tường V, sinh ngày 06/02/2024. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Phong S:

Các văn bản tố tụng của Tòa án đã được thông báo hợp lệ cho anh Nguyễn Phong S theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng anh S không có mặt tại Toà và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về nội dung yêu cầu ly hôn của chị L nên không có lời khai của anh S tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Mỹ L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Phong S. Phía bị đơn cư trú tại ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Phong S đã được Tòa án thông báo đến lần thứ hai về việc tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Phong S kết hôn là do tự nguyện yêu thương và đi đến hôn nhân. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/6/2022 là đúng quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Do đó, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, dẫn đến việc hai bên sống ly thân từ nhiều tháng nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy: Chị L và anh S hiện tại đang sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến cuộc sống của nhau trong nhiều tháng nay. Trong thời gian thụ lý vụ án, Tòa án đã có thông báo các thủ tục tố tụng mời anh S có mặt tại các phiên hòa giải và xét xử nhưng anh S đều vắng mặt, chứng tỏ anh S không có thiện chí muốn hoà giải hàn gắn với chị L. Tại phiên tòa hôm nay, chị L xác định không còn tình cảm gì với anh S và mong muốn được chấm dứt quan hệ hôn nhân này. Như vậy, HĐXX xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

[4]. Về con chung: Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy: hiện nay cháu Nguyễn Phạm Tường V còn quá nhỏ, rất cần có sự chăm sóc của người mẹ nên việc giao con cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị L.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L xác định chị hoàn toàn có đủ khả năng chăm sóc tốt cho con nên chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này nếu các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị L.

[6]. Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ các Điều 28, 227, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Phong S.
  2. Về con chung:

    Giao cho chị Phạm Thị Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phạm Tường V, sinh ngày 06/02/2024 đến khi con tới tuổi trưởng thành.

    Trong thời gian chị L nuôi dưỡng con chung, anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét

  3. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo biên lai thu số 0001197 ngày 24 tháng 6 năm 2024. Chị L không phải nộp thêm.

Án xử công khai. Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Phong S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS cùng cấp;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ Phiên Tòa

Nguyễn Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 175/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger