TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2024/DS-ST
Ngày 25 - 9 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hoàng Thám
Bà Lê Thị Quyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đào Duy L, sinh năm 1955 (có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Địa chỉ cư trú: Ấp D, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1958 (vắng mặt)
- Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:
Vào ngày 01/10/2023 âm lịch ông Đào Duy L có lập tờ giao kèo bán cho bà Trần Ngọc T 03 hecta tràm (gồm 02 ha tràm Ú và 01 ha tràm rừng) với số tiền là 140.000.000 đồng (trong đó tràm Úc giá 50.000đ/ha, tràm rừng giá 40.000.000đ/ha). Theo giao kèo đến ngày 15/10/2023 âl bà T sẽ trả trước cho ông L 70.000.000 đồng, còn lại 70.000.000 khi khai thác xong sẽ trả đủ cho ông L nhưng bà T không thực hiện. Sau đó đến ngày 08/11/2023 bà T có làm tờ cam kết hứa đến ngày 28/11/2023 âl lịch trả cho ông L và sẽ khai thác bàn giao mặt bằng lại cho ông L. Tuy nhiên bà T không trả tiền cho ông L như đã cam kết và chỉ khai thác 02 hecta tràm Úc rồi ngưng không tiếp tục khai thác để trả mặt bằng cho ông L. Ông L có yêu cầu bà T trả tiền và tiếp tục khai thác để bàn giao mặt bằng lại cho ông L trồng tràm nhưng đến hết hạn khai thác theo giao kèo bà T vẫn không thực hiện. Ông L có yêu cầu bà T trả tiền 02 hecta tràm Úc với giá 100.000.000 đồng nhưng bà T hứa hẹn mà không trả tiền cho ông L nên ông L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà T trả cho ông số tiền là 100.000.000 đồng. Quá trình tố tụng tại Tòa án, phía bị đơn bà Trần Ngọc T không tham gia theo giấy triệu tập của Toà án, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của ông L nhưng giao dịch mua bán tràm giữa ông L với bà T là thực tế có xảy ra và bà T đã khai thác xong 02 hecta tràm Úc nhưng chưa trả tiền cho bà T (việc này được sự xác nhận của trưởng ấp A và UBND xã K). Như vậy ông L trình bày việc giữa ông với bà T có xác lập hợp đồng mua bán tràm và bà T còn nợ ông số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Do đó căn cứ theo quy định tại Điều 430, điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Duy L, buộc bà Trần Ngọc T trả cho ông Đào Duy L số tiền mua tràm là 100.000.000 (Một trăm triệu đồng).
Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Trần Ngọc T đúng theo quy định pháp luật nhưng bà T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Ông Đào Duy L yêu cầu bà Trần Ngọc T trả tiền mua bán cây tràm, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Trần Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T theo quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Đào Duy L yêu cầu bà Trần Ngọc T trả tiền mua bán cây tràm còn nợ là 100.000.000 đồng.
Xét thấy việc thỏa thuận mua bán cây tràm giữa ông L và bà T là có thật thể hiện tại tờ giao kèo (bán tràm) ngày 01 tháng 10 năm 2023 âm lịch giữa bà T và ông L (bút lục 04). Và việc bà T đã khai thác xong 02 hecta tràm Úc là có thật thể hiện tại đơn xin xác nhận của ông L có xác nhận của trưởng ấp A, xã K và của Ủy ban nhân dân xã K, huyện U. Đồng thời tại tờ cam kết ngày 08/11/2023 âm lịch cũng thể bà T cam kết trả tiền cho ông L vào ngày 28/11/2023 nhưng ông L xác định bà T chưa trả tiền cho ông L theo cam kết. Mặt khác, bà T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và được Tòa án triệu tập để tham gia giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do, không nộp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc bà Trần Ngọc T trả cho ông Đào Duy L số tiền mua tràm là 100.000.000 (Một trăm triệu đồng).
Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Bà Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 đồng. Ông L không phải chịu án phí và ông L là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 274, 275, 430, 440 của Bộ luật Dân sự; Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Duy L đối với bà Trần Ngọc T.
- Buộc bà Trần Ngọc T trả cho ông Đào Duy L số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi phát sinh tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Về án phí: Bà Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mộng Chi |
Bản án số 175/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 175/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông L yêu cầu bà T trả tiền mua bán cây tràm
