|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2024/DS-ST
Ngày: 16/9/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng thuê kiốt”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng, ông Phùng Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2024/TLST-DS ngày 02/04/2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng thuê kiốt”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị (tên viết tắt HUDS); địa chỉ: Đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Thiều Hữu H, chức vụ: Giám Đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Quốc H1, chức vụ: Giám đốc xí nghiệp D1, ông Nguyễn Chiến T, chức vụ: Phó giám đốc xí nghiệp D1, bà Đinh Thị T1, chuyên viên Phòng Pháp chế, bà Đinh Thị Minh L, Trưởng phòng Pháp chế. (Văn ban ủy quyền số 220/UQ-HUDS ngày 11/4/2024). Bà T1 có mặt; ông T, ông H1, bà L vắng mặt.
- - Bị đơn: Bà Hà Thị U; sinh năm 1973; địa chỉ: E, P12, KĐT V, phường V, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố H; địa chỉ: Số A phố L, quận H, thành phố Hà Nội; đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đức T2, Phó trưởng phòng Quản lý nhà và Thị trường bất động sản, Sở Xây dựng thành phố H, ông Lê Khắc T3, Chuyên viên Phòng Quản lý nhà và Thị trường bất động sản, Sở Xây dựng thành phố H. Theo Giấy uỷ quyền số 37/GUQ-UBTP ngày 04/4/2023 của UBND thành phố H; đại diện theo ủy quyền làm đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Tổng Công ty Đ1 (HUD); địa chỉ: Tòa nhà H, số C đường L, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoài Đ, chức vụ: Tổng Giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Phú C – Phó Giám đốc BQL DA số A; ông Trương Đình M – Trưởng phòng Đầu tư BQL DA số 11. Theo Giấy ủy quyền số 1439/UQ-HUD ngày 22/5/2024 của HUD. Ông C có mặt, ông M vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn trình bày: Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị (sau đây gọi tắt là “nguyên đơn” hoặc “HUDS”) là đơn vị 100% vốn Nhà nước trực thuộc Tổng Công ty Đ1 (sau đây gọi tắt là “Tổng HUD”) được giao quản lý và khai thác tài sản của Nhà nước là các kiốt/siêu thị tầng 1 các chung cư tại Khu đô thị V, quận L, thành phố Hà Nội.
Ngày 14/3/2011, Công ty H2 giao kết Hợp đồng cho thuê kiốt số 18/11/HĐTKTÔ với bà Hà Thị U với những nội dung chính sau: Địa điểm: Kiốt số 02, tầng A, chung cư P, khu đô thị V, quận L, thành phố Hà Nội; Diện tích thuê: 32,5 m2; Mục đích: kinh doanh; Thời hạn kể từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2012; Đơn giá thuê: Từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/3/2011 là 64.000 đồng/m2/tháng; từ ngày 01/04/2011 đến hết ngày 31/12/2011 là 86.000 đồng/m2/tháng; từ ngày 01/01/2012 đến hết ngày 31/12/2012 là 100.000 đồng/m2/tháng (bao gồm thuế VAT); (Giá trị của hợp đồng là 70.395.000 đồng). Ngoài ra còn thỏa thuận về trách nhiệm của các bên, vi phạm và xử lý vi phạm, chấm dứt hợp đồng.
Sau khi Hợp đồng hết hiệu lực, bà U không thanh lý Hợp đồng cũ, giữa các bên không ký Hợp đồng mới nhưng bà U vẫn tiếp tục sử dụng mặt bằng. Căn cứ vào Điều 9 của Hợp đồng, nguyên đơn đã nhiều lần vận động bà U thanh toán tiền sử dụng mặt bằng kiốt, thanh lý Hợp đồng và trả lại mặt bằng Kiốt số 02, tầng 1, chung cư P khu đô thị V cho HUDS nhưng bà U không hợp tác. Do đó, Công ty H2 đã làm đơn khởi kiện bà U đến Tòa án nhân dân quận Long Biên.
Yêu cầu bà U trả lại mặt bằng thuê; bồi thường cho Công ty H2 số tiền thu được do sử dụng trái phép kiốt, tính từ ngày 01/6/2016 đến hết ngày 31/07/2020 là: 205.160.952 đồng. Khi nào Tòa án nhân dân quận Long Biên xét xử, số tiền bà Hà Thị U phải trả cho Công ty H2 (bao gồm tiền lãi Ngân hàng) sẽ được tính tiếp từ ngày 01/08/2020 đến ngày xét xử cộng với lãi suất chậm thi hành án (nếu có).
Tại bản tự khai và đơn bổ sung đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Ngày 02/7/2024, bà Hà Thị U tự nguyện bàn giao mặt bằng kiốt cho HUDS. Vì vậy, Công ty rút yêu cầu khởi kiện đòi mặt bằng kiốt và không tính lãi chậm trả đối với bị đơn. Yêu cầu bà U phải trả tiền sử dụng kiốt, thời gian từ 01/6/2016 đến hết ngày 01/7/2024 tính theo đơn giá tại văn bản số 462/UBND-ĐT ngày 17/02/2021 của UBND thành phố H là 120.527 đồng/m²/tháng đối với diện tích đã được điều chỉnh là 28,62 m2 (diện tích thông thủy), tương ứng với số tiền 28,62 m2 x 120.527 đồng/m2/tháng x 97 tháng 01 ngày = 334.714.834 đồng.
Bị đơn là bà Hà Thị U: Không có văn bản gửi tòa án.
Đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố H: Do cán bộ Sở Xây dựng thành phố H đại diện theo uỷ quyền của UBND thành phố H giao nộp các văn bản do UBND thành phố H và Sở Xây dựng thành phố H ban hành kể từ năm 2016 đến 2021 về việc chỉ đạo, đôn đốc Tổng Công ty H3 và các đơn vị thành viên truy thu tiền sử dụng kiốt, thu hồi kiốt để bàn giao cho Ban quản lý các công trình nhà ở và công sở quản lý.
Tổng Công ty Đ1 (HUD) trình bày: Công ty H2 vẫn đang được Tổng Công ty H3 giao quản lý các kiốt, truy thu tiền thuê các kiốt liên quan đến vụ án và thực hiện việc thu hồi để bàn giao kiốt cho các cấp ngành theo Hợp đồng số 114/HĐKT-TCT ngày 14/11/2006 và Văn bản số 2836/HUD-PCTT ngày 12/9/2019 về việc giao nhiệm vụ/uỷ quyền cho Công ty H2. Thực hiện các công việc được giao nêu trên trong bối cảnh bên thuê là bà U đã tự nguyện hoàn trả kiốt nhưng không trả tiền thuê. Vì vậy, Công ty H2 khởi kiện các cá nhân, tổ chức cụ thể là khởi kiện bị đơn yêu cầu trả số tiền tương ứng với thời gian chiếm giữ mặt bằng kiốt như đơn khởi kiện là có cơ sở. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà U trả lại mặt bằng thuê kiốt và tính lãi suất chậm trả; buộc bà U phải trả số tiền thuê kiốt cho Công ty H2; về án phí bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị (HUDS) đòi tài sản cho thuê và tiền thuê kiốt phát sinh từ hợp đồng, do vậy đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn lựa chọn nơi thực hiện hợp đồng để khởi kiện do vậy, Toà án nhân dân quận Long Biên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt lần hai, đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố H làm đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị (HUDS) được thành lập trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0101042990 do Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp với các ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh bất động sản, kinh doanh phát triển nhà, khu đô thị V cung cấp quản lý các dịch vụ nhà ở cao tầng, quản lý khu công cộng trong nhà chung cư, khai thác các dịch vụ kiốt...
Theo Quyết định số 3819/QĐ-UB ngày 18/6/2004 của UBND thành phố H thì Tổng HUD được giao là Chủ đầu tư xây dựng Khu đô thị M. Theo đó, thành phố thu hồi 1.980.233m² đất tại các phường V, G, T, Đ, quận L giao cho Tổng HUD để đầu tư xây dựng Khu đô thị M. Năm 2011, Tổng HUD hoàn thành xây dựng dự án Khu đô thị M và đưa vào sử dụng. Sau đó Tổng HUD giao cho HUDS quản lý vận hành 27 chung cư 05 tầng, 12 chung cư cao tầng tại KĐT V, bao gồm việc quản lý và cho thuê 74 kiốt, 08 siêu thị tầng 1 từ năm 2006 thông qua giao kết Hợp đồng số 114/HĐKT-TCT ngày 14/11/2006 giữa Tổng HUD và HUDS, cho đến nay Tổng HUD vẫn xác nhận HUDS vẫn đang được HUD giao quản lý các kiốt, truy thu tiền sử dụng kiốt theo Hợp đồng số 114 ngày 14/11/2006 và văn bản số 2836/HUD-PCTT ngày 12/9/2019 về việc giao nhiệm vụ/uỷ quyền cho Công ty H2. Theo đó, HUDS đã ký hợp đồng thuê kiốt, siêu thị tại tầng 1 chung cư cao tầng KĐT mới Việt Hưng với các tổ chức, cá nhân trong đó có kiốt số 2, tầng 1, P1 với bà Hà Thị U.
Hợp đồng thuê kiốt giữa hai bên có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 401, 402, 403, 404, 405 và 406 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực và phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên tham gia giao kết.
Tại phiên tòa nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu trả lại mặt bằng ki ốt và không yêu cầu bị đơn trả lãi suất chậm trả. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty H2 là tự nguyện nên HĐXX chấp nhận là có căn cứ.
Đối với số tiền chưa thanh toán do sử mặt bằng kiốt kể từ ngày 01/6/2016 đến hết ngày 01/7/2024 là: 334.714.834 đồng; việc điều chỉnh diện tích thuê; giá thuê nhà mới theo văn bản số 462/UBND - ĐT ngày 17/02/2021 của UBND thành phố H để làm cơ sở truy thu tiền thuê kiốt là phù hợp sự thỏa thuận của hai bên, phù hợp thời gian sử dụng kiốt; phù hợp với pháp luật. Vì vậy, Công ty H2 yêu cầu bà U phải có trách nhiệm trả số tiền trên là có căn cứ.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26, 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 244, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 492, 495 Bộ luật dân sự năm 2005; điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị về việc yêu cầu bà Hà Thị U bàn giao mặt bằng thuê kiốt và tính lãi suất chậm trả.
- Buộc bà Hà Thị U phải trả cho Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị số tiền 334.714.834 đồng.
Kể từ ngày Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị làm đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí: Bà Hà Thị U phải chịu 16.735.741 đồng án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả Công ty TNHH một thành viên D ở và khu đô thị (HUDS) số tiền 5.129.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0018586 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Quang |
Bản án số 175/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng thuê kiốt
- Số bản án: 175/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê kiốt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng thuê ki ốt
