Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

Bản án số: 175/2023/HS-PT

Ngày 19-12-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dương
Bà Bùi Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 165/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Duy C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 146/2023/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Lê Duy C, sinh năm 1990 tại Hải Phòng. ĐKNKTT: Tổ 9 phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn D xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy C1 và bà Lê Thị T; có vợ là Hoàng Thị T1 (đã ly hôn) và có 04 con; tiền án: 01 tiền án - Bản án sơ thẩm số 16/2018/HS-ST ngày 09/02/2018 của TAND thành phố Hải Phòng xử 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bị kháng cáo; Bản án phúc thẩm số 245/2018/HS-PT ngày 17/4/2018 của TAND cấp cao tại Hà Nội sửa bản án sơ thẩm xử 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” (chưa được xóa); bị tạm giữ ngày 12/5/2023; tạm giam ngày 20/5/2023; có mặt.

Các bị cáo không kháng cáo: Trần Đoàn H, Nguyễn Đình T2, Đào Vinh T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/5/2023, Nguyễn Lê Duy C có thuê xe ô tô Mazda CX5, BKS: 15A - 077.85 của Trịnh Xuân A, sinh năm 1987, nơi cư trú: Số A Đ, phường Đ, quận L, Hải Phòng là chủ cơ sở cho thuê xe ô tô tự lái “Thành Đạt” để C cho khách thuê. Đến ngày 11/5/2023 do xe thuê của Xuân A bị tai nạn hỏng nên Nguyễn Đình T2C đến cơ sở thuê xe “Thành Đạt” để trả xe và giải quyết việc sửa chữa, đền bù thiệt hại. Xuân AT2 tranh cãi nhau về việc sửa chữa xe nhưng hai bên chưa thống nhất. Một lúc sau, T2 liên lạc qua điện thoại với Cao Tuấn T4 (tức T4 bống), sinh năm 1988, nơi cư trú: Số A H, phường N, quận L, Hải Phòng rồi đưa điện thoại cho Xuân A nói chuyện với T4. Trong lúc nói chuyện, T4 nói Xuân A chèn ép, làm khó cho T2 rồi chửi bới và đe dọa đánh Xuân A nên Xuân A cũng chửi lại, sau đó anh Xuân A đi về nhà.

Khi biết xảy ra cãi chửi nhau giữa T4 với anh Xuân A, do biết T4 nóng tính hay gây sự đánh nhau nên ngay sau đó CT2 đến tìm T4 ở số A lô A đường L, quận H, Hải Phòng. Khi đến CT2 gặp Cao Tuấn T4; Trần Đoàn H (tức H củ); Đào Vinh T3 (tức T3 kều); Hoàng Anh M (tức Mỹ M1); Đặng Huy H1 (tức Hoàng tà lồ) và 02 nam giới khác tên T2 "giò", N (chưa rõ lai lịch). Tại đây, T4 nói với mọi người là bị Xuân A thách thức, còn T2 nói nguyên nhân mâu thuẫn từ việc thuê xe ô tô của Xuân A đi bị tai nạn và chưa thống nhất được việc đền bù. H gọi điện cho Xuân A mở loa ngoài hỏi lý do thách thức T4 thì Xuân A nói không thách thức mà do T4 chửi Xuân A nên Xuân A chửi lại. T4, T2T3 đứng bên cạnh xen vào chửi Xuân A; H dập máy rồi chửi T4 về việc Xuân A không thách thức mà do T4 chửi trước thì T4 bỏ ra ngoài. Cho rằng T4 đến nhà Xuân A để giải quyết mâu thuẫn nên cả nhóm bảo nhau đi cùng T4 xem sự việc thế nào.

Khoảng 12 giờ ngày 11/5/2023, T4 "bống", T3 "kều", M "mèo", H1 "tà lồ", T2 "giò"N chở nhau bằng 02 xe máy, còn C điều khiển xe ô tô Mazda 2, BKS: 15K - 003.98 chở T2, H đến nhà Xuân A tại số A Đ, phường Đ, L, Hải Phòng nhưng không gặp Xuân A. Khi cả nhóm đi ra thì gặp người quen là Nguyễn Đức T5 (tức T5 cún). T5 hỏi có việc gì thì có người trong nhóm T4 nói đang có việc với Xuân A. Sau đó nhóm T4 bảo nhau đi sang cửa hàng cho thuê xe “Đức Phúc” của C tại T, T, Hải Phòng, T5 cũng đi cùng. Cả nhóm ngồi ăn uống với nhau một lúc ở cửa hàng cho thuê xe “Đức Phúc” thì T5, N, MH1 đi về trước chỉ còn H, T3, T2, CT4 ở lại.

Tại cửa hàng cho thuê xe “Đức Phúc”, T4Xuân A lại liên lạc qua điện thoại và lời qua tiếng lại với nhau. T4 nói với cả nhóm H, T3, T2, CXuân A thách thức T4 và hẹn 14 giờ cùng đến nhà Xuân A giải quyết mâu thuẫn. Nghe vậy cả nhóm bức xúc vì thái độ của Xuân A và nói phải đánh Xuân A. T4 bảo cả nhóm có "đồ" (tức vũ khí) gì thì cầm đi. T2 mượn xe ô tô của H đi một mình đến nhà anh Lê Văn T6, sinh năm 1977, nơi cư trú: thôn L, xã D, T, Hải Phòng lấy một con dao quắm rồi quay lại. T4 đã chuẩn bị 04 con dao quắm khác có sẵn trong cửa hàng của C được đựng trong 01 túi da màu đen (dạng túi đựng đàn ghita). T2 đưa con dao quắm vừa mang về cho T4 cất chung vào túi da. Sau đó T3 điều khiển xe ô tô Mazda 2, BKS: 15K - 003.98 chở H ngồi ghế phụ trước, còn T2 điều khiển xe

moto để túi da đựng 05 dao quắm ở võng xe chở CT4 ngồi sau đi đến nhà Xuân A. Trên đường đi đến nhà Xuân A, H cầm theo 01 khẩu súng ngắn K59 cất trong túi xách cầm tay, H có bỏ khẩu súng ra cho T3 xem và lên đạn ngay khi ở trong xe.

Về phía anh Nguyễn Đức T5 (tức T5 cún), sau khi đi về trước và biết việc đang xảy ra mâu thuẫn, T5 gọi điện cho một người anh xã hội lớn tuổi hơn mà cho rằng có thể có uy tín để hòa giải là Đặng Tuấn A1, (tức T3 em), sinh năm: 1982, nơi cư trú: Số F phường H, quận L, Hải Phòng kể sự việc và nhờ Tuấn A1 nếu quen biết hai bên thì đứng ra giải quyết tránh xảy ra đánh nhau. Tuấn A1 quen cả hai bên nên đồng ý. Sau đó, Tuấn A1 cùng T5 đến nhà Xuân A nói chuyện.

Khi Tuấn A1, T5 đang ngồi nói chuyện với Xuân A tại nhà số A Đ, phường Đ, L, Hải Phòng thì T3H đi xe ô tô đến trước. H lấy khẩu súng K59 từ trong túi đeo chéo của mình ra cất vào túi quần để sử dụng khi cần thiết. T5 thấy T3, H đến thì đi ra cửa bảo H là bên trong có anh Tuấn A1T5 đã nói chuyện xong với Xuân A, rồi cùng H, T3 đi vào trong nhà. Tại nhà Xuân A lúc này còn có anh Phạm Thắng T7, sinh năm 1990, nơi cư trú: số A Miếu H, phường D, quận L, Hải Phòng; Nguyễn Tuấn A2, sinh năm: 1988, nơi cư trú: Số C D, quận L, Hải Phòng (nhân viên của anh Xuân A) và anh Nguyễn Trường L, sinh năm: 1991, nơi cư trú: Số E L, quận N, Hải Phòng (bạn của anh Xuân A). Vì biết bên trong nhà còn có anh Tuấn A2 (tức T3 em) nên HT3 vào ngồi nói chuyện tại phòng khách tầng 1 với anh Xuân A, Tuấn A2T5. Khi mọi người đang nói chuyện thì T2 chở C, T4 đi xe máy đến dừng xe cách cửa nhà khoảng 05m, T2 cầm theo túi đựng 05 con dao quắm rồi cả ba đi vào nhà. Anh T5 đi ra đứng ở cửa ngăn không cho T2 mang túi đựng dao quắm vào trong nhà nên T2 phải bỏ lại trước cửa rồi cùng T4, C đi vào trong nhà.

Khi vào nhà T4 chửi và dọa đánh anh Xuân A. Tuấn A2 (tức T3 em), T5H thấy thái độ của T4 căng thẳng thì can ngăn và bảo T4 không được có hành động gì, để mọi người nói chuyện. L thấy thái độ của T4 hung hăng thì ôm giữ T4 can ngăn để tránh xảy ra đánh nhau. T2, C thấy có mặt anh Tuấn A2 ở đó thì ngồi xuống nói chuyện với Xuân A về việc đền bù xe. Anh T5 thấy sự việc căng thẳng sợ xảy ra hậu quả lớn nếu xô xát đánh nhau nên cầm túi đựng dao quắm của T2 đang để ở sát cửa kính ra vào nhà mang ra cất vào cốp xe ô tô của H. Trong lúc ngồi nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, H lấy khẩu súng K59 từ trong túi quần ra đưa cho Tuấn A2 (tức T3 em) ngồi cạnh xem mục đích thị uy với mọi người có mặt tại đó để mọi người nghe theo lời của H. Tuấn A2 bảo H cất súng đi thì H cất súng vào túi quần. Lúc này T4 vẫn tỏ thái độ hung hăng và chửi bới Xuân A. Tuấn A2 (tức T3 em) bảo T4 đi về thì T4 bỏ ra ngoài nhưng vẫn tỏ thái độ bực tức, anh T5 ở bên ngoài dùng xe máy chở T4 về nhà. Sau khi T4 về thì T2, C và mọi người ngồi nói chuyện thống nhất được việc giải quyết với anh Xuân A về việc sửa chữa bồi thường xe ô tô bị tai nạn. Tuấn A2 gọi điện bảo anh T5 quay lại đón về, còn T2 một mình đi trước ra quán nước nhà anh T5 ở đường H. Còn lại nhóm H, T3C chuẩn bị đi về thì bị lực lượng HP22 Công an quận L có mặt kịp thời phát hiện và yêu cầu những người liên quan về trụ sở để làm rõ. Quá trình giải quyết, thu giữ

của Trần Đoàn H: 01 khẩu súng ngắn, thân súng có ký hiệu chữ và số: KP372470, bên trong súng có 06 viên đạn và 01 túi đeo quai chéo màu đen kích thước khoảng 25x15x30x04 cm, bên trên túi có ghi chữ "Dior" bên trong túi có: 01 ví cầm tay màu nâu có hình hoa văn và chữ "LV", kích thước 11x07cm bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 thẻ căn cước công dân; 01 chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Trần Đoàn H; số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); 01 dao bấm bằng kim loại sáng màu dài khoảng 20cm, cán dao bằng gỗ màu nâu. Thu giữ của Đào Vinh T3: 01 túi giả da màu đen dạng túi đựng đàn ghi ta kích thước 108 x 45cm bên trong có 05 con dao (dạng dao quắm); 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, màu sơn: trắng, BKS: 15K - 003.98.

Về nguồn gốc khẩu súng K59, Trần Đoàn H và anh Hoàng V, sinh năm: 1976, nơi cư trú: số C N, phường V, quận L, Hải Phòng (nguyên phó trưởng Công an phường V, quận L, Hải Phòng) khai: Vào khoảng 20h ngày 10/5/2023, anh V cùng H đi dự sinh nhật tại nhà hàng V1, phường M, quận N, Hải Phòng. Trong lúc ngồi ăn uống, anh V nói có cầm theo súng để ở cạp quần bị cộm vướng nên nhờ H cầm hộ để lát nữa lấy lại. Sau đó, anh V về trước quên chưa lấy lại súng và H cũng chưa kịp trả lại cho anh V. Vào ngày 11/5/2023 H không nói gì với anh V mà tự ý mang khẩu súng K59 do anh V gửi đi đến nhà Xuân A cùng với các đối tượng khác để giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình ngồi tại nhà Xuân A thì H bỏ khẩu súng ra đưa cho Tuấn A2 xem mục đích để thị uy với những người có mặt tại nhà Xuân A.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ, H khai là ma túy H mua của một nam giới không quen biết ở khu vực đường T, L, Hải Phòng trước đó khoảng 10 ngày để sử dụng nhưng chưa hết nên cất trong túi quai chéo của H.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đoàn H, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Lê Duy C, Đào Vinh T3 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với nhau và phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập được. Các đối tượng khai mục đích chuẩn bị các hung khí, vũ khí mang theo đến nhà Xuân A giải quyết mâu thuẫn với anh Xuân A và nếu xảy ra việc xô xát sẽ sử dụng để đánh nhau.

Tại Bản kết luận giám định số 07/KL-KTHS(SĐ) ngày 11/5/2023 của Phòng K - Công an T8 kết luận: “Khẩu súng ngắn có ký hiệu chữ và số KP372470 thu giữ của Trần Đoàn H là súng ngắn K59, thuộc vũ khí quân dụng; 06 viên đạn là đạn cỡ 9 x 18mm là vũ khí quân dụng”.

Tại Bản kết luận giám định số 403/KL-KTHS(MT) ngày 22/5/2023 của Phòng K - Công an thành phố T8 kết luận: “Túi nilon chứa tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Đoàn H có khối lượng 0,38g là ma túy, loại Ketamine”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 146/2023/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Duy C 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù

tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2023. Ngoài ra bản án còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác.

Ngoài ra bản án còn tuyên về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Lê Duy C có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Lê Duy C giữ nguyên kháng cáo, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà gia đình bị cáo xuất trình biên lai nộp án phí cho bị cáo C và đơn đề nghị có xác nhận của địa phương nội dung mẹ bị cáo C là bà Lê Thị T thường xuyên ốm đau, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Duy C là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Duy C về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo có đơn xác nhận mẹ bị cáo là bà Lê Thị T thường xuyên ốm đau, vợ bị cáo đã ly hôn, bị cáo phải nuôi 04 con nhỏ bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tại phiên toà gia đình bị cáo xuất trình biên lai thu tiền án phí của bị cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng thể hiện sự chấp hành pháp luật và ăn năn hối cải của bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét tại giai đoạn phúc thẩm có thêm tình tiết mới đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Lê Duy C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Duy C trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Lê Duy C, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 11/5/2023 các bị cáo Trần Đoàn H, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Lê Duy CĐào Vinh T3 đã có hành vi cùng nhau bàn bạc, chuẩn bị hung khí (05 con dao quắm) đến nhà số A Đ, phường Đ, quận L, Hải Phòng nhằm gây thương tích cho Trịnh Xuân A và bị bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo Trần Đoàn H, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Lê Duy CĐào Vinh T3 đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Toà án nhân dân quận Lê Chân đã xét xử bị cáo Nguyễn Lê Duy C theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Duy C:

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã áp dụng mức hình phạt 09 (chín) tháng tù đối với bị cáo là đúng người đúng tội. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, tuy nhiên chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội chưa gây thương tích cho bị hại, tính nguy cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo tại thời điểm xét xử là hạn chế. Xét hoàn cảnh của bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi 04 con nhỏ, mẹ bị cáo là Lê Thị T cao tuổi, thường xuyên ốm đau. Bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, cho thấy ý thức ăn năn hối cải. Xét đây là các tình tiết mới được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giảm cho bị cáo Nguyễn Lê Duy C như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp. Hội đồng xét xử quyết định giảm mức hình phạt cho bị cáo bằng thời gian chưa chấp hành hình phạt là 01 tháng 22 ngày tù. Xét bị cáo không bị giam giữ về tội nào khác nên quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Duy C được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Lê Duy C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê Duy C, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, Xử phạt Nguyễn Lê Duy C 07 (bảy) tháng 08 (tám) ngày tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2023. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố Tụng Hình sự. Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Lê Duy C tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam giữ về một tội phạm khác.

Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Lê Duy C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 146/2023/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPHP;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - PV06 Công an TPHP;
  • - Cơ quan CSĐT quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS quận Lê Chân;
  • - TAND quận Lê Chân;
  • - Sở Tư pháp TP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2023/HS-PT ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 175/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger