|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 175/2024/HS-ST
Ngày 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Bùi Đình Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Phạm Văn T, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1999 tại Hải Phòng; cư trú: Thôn F, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng G và bà Đỗ Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 07/12/2023. Có mặt.
- Bùi Văn D, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1999 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Trần Thị V1; có vợ là Đinh Thị H, có vợ là Đinh Thị Hoài T1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 20/12/2023 chuyển sang tạm giam. Có mặt.
- Ngô Hoàng A, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2002 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thanh B và bà Trần Thị V2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 07/12/2023. Có mặt.
- Phạm Tiến T2, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2005 (khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 13 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Bùi Thị D1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (không coi là án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/6/2024. Có mặt.
- Bị hại: Anh Bùi Đức N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Vũ Văn H2, anh Dương Mạnh H3, anh Vũ Văn P. Toàn bộ người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 19/8/2023, do có mâu thuẫn trong việc giao hàng thông qua dịch vụ chuyển phát giữa anh Bùi Đức N (làm nghề vận chuyển hàng hóa) và Phạm Văn T nên hai bên đã xô xát đánh nhau. Anh N dùng tay chân, mũ bảo hiểm đánh T nhưng không gây thương tích, được mọi người can ngăn nên cả hai đã ra về. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T nhờ anh Dương Mạnh H3, sinh năm 1996, nơi cư trú: tổ dân phố B, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng (là bạn của anh N) hẹn anh N đến quán I ở tổ dân phố Q, thị trấn M để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha không gắn BKS mang theo 01 con dao (dạng dao bài) dài khoảng 60cm và 01 con dao (dạng dao mèo) dài khoảng 60cm để ở võng xe đi ra địa điểm hẹn gặp N. Trên đường đi đến ngã ba chợ thuộc tổ dân phố Q, thị trấn M thì gặp bạn là Bùi Văn D và Ngô Hoàng A đang đi chơi. T kể cho D và Hoàng A biết việc anh N đánh T trước đó và rủ D và Hoàng A cùng đi đánh anh N, D và Hoàng A đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở D và Hoàng A đến quán I đợi anh N. Một lúc sau, anh N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS 16R1-5416 đến. T, Hoàng A đi vào trong sân đứng nói chuyện với anh N, D ở ngoài cổng lấy 01 con dao (dạng dao bài) ở võng xe của T giấu trong người. Lúc này, Phạm Tiến T2 (là cháu của Hoàng A) đi chơi qua quán internet thấy Hoàng A, T và anh N đang đứng cãi chửi nhau, T2 đến hỏi Hoàng A “có chuyện gì đấy chú” thì bị Hoàng A đuổi ra ngoài, khi ra ngoài đường T2 quan sát thấy ở xe mô tô của T có 01 con dao mèo, T2 đã tự ý cầm con dao trên giấu trong
người rồi đi vào trong sân đứng quan sát với mục đích nếu N đánh Hoàng A sẽ đánh N để bênh Hoàng A. Lúc này, T và Hoàng A sau khi chửi nhau với N thì bất ngờ dùng tay chân đánh anh N khiến anh N bỏ chạy vào phía trong quán. T chạy ra phía ngoài xe mô tô với ý định lấy dao để đuổi đánh anh N nhưng không thấy. Danh cầm theo 01 con dao bài bằng tay phải đuổi theo N vào trong quán, rồi chém nhát đầu trúng vào thái dương trái của anh N, chém nhát thứ hai thì anh N giơ tay trái lên đỡ, trúng vào lòng bàn tay. Hoàng A lao vào ôm vào bụng giữ anh N, D tiếp tục dùng dao chém hai nhát nữa trúng vào tay của Hoàng A và anh N. T2 cũng cầm theo 01 con dao mèo chạy đuổi theo để chém anh N nhưng do 02 bên quán là máy tính và ghế ngồi nên đường đi của quán hẹp khiến T2 vướng D phía trước và thấy anh N chạy được về phía sau quán và thấy Hoàng A cùng D không tiếp tục đuổi theo mà đi ngoài nên T2 cũng quay ra không đuổi đánh anh N nữa. T2 thấy Hoàng A bị thương tích ở tay nên đã đưa dao cho Danh cầm rồi chở Hoàng A đi cấp cứu. Danh cầm hai con dao ngồi lên xe mô tô của T để đi về nhưng xe mô tô của T không nổ máy được, lúc này D thấy anh N chạy từ trong quán ra trên tay cầm 01 tuýp sắt đầu gắn dao nhọn (dạng giáo chọc), sợ bị đánh nên D hô “chạy đi” thì T và D bỏ xe mô tô lại hiện trường bỏ chạy. Trên đường bỏ chạy, D vứt 02 con dao trên ở bụi cây của dải phân cách ven đường B, thị trấn M. Anh N bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại phân viện M, trên đường đi anh N đã vứt thanh tuýp sắt tại khu vực ven đường tổ dân phố Q, thị trấn M.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện có nhiều dấu vết máu dạng nhỏ giọt dọc từ khu vực trong quán X ra đến sân và cổng. Thu giữ tại khu vực trước cửa quán có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamha Exciter không gắn biển kiểm soát màu xanh trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS 16R1-5416 của T và N để lại, 01 đĩa CD bên trong chứa 03 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của quán ghi lại diễn biến sự việc do anh Vũ Văn P, sinh năm 1989, nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn M là chủ quán I tự nguyện giao nộp.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành truy tìm vật chứng do D và anh N vứt bỏ tại khu vực thị trấn M nhưng không thu giữ được.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 738/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 18/10/2023 của Trung tâm P1 – Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Hoàng A là 06%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương cánh tay phải kèm đứt đơn thuần cơ tam đầu cánh tay gây nên là 05%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mu tay phải gây nên là 01%. Tổn thương gân tại vết thương mu tay phải đã tạm ổn định không ảnh hưởng chức năng nên không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 780/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 20/11/2023 của Trung tâm P1 – Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Đức N tại thời điểm giám định là 36%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng thái dương tai trái gây nên là 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng dái tai trái gây nên là 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương liền vết phẫu thuật mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái gây nên là 02%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mặt trước 1/3 dưới cẳng tay qua cổ tay xuống bờ trụ gan bàn tay trái gây nên là 03%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do mẻ xương tháp, vỡ xương thê cổ tay trái không gây cứng khớp cổ tay trái, còn hạn chế vận động khớp cổ tay trái gây nên là 09%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương bàn V tay trái, can xương chắc gây nên là 07%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương động mạch trụ trái đã khâu nối, kết quả tốt gây nên là 04%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương thần kinh giữa đoạn cổ tay trái mức độ nặng (tổn thương nhánh thần kinh giữa) gây nên là 15%. Tổn thương đứt gân gấp cổ tay quay, gan tay dài, gân gấp cổ tay trụ, gân gấp các ngón tay nông sâu, gân gấp ngón cái dài bàn tay trái đã được khâu nối đang trong giai đoạn hồi phục, chỉ gây hạn chế vận động khớp cổ tay và các ngón bàn tay trái, không gây cứng khớp cổ tay và các ngón bàn tay trái, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổn thương ổ khuyết xương đầu dưới xương quay tay trái (di chứng của chấn thương cổ tay trái) không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong Thông tư hiện hành nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổn thương tĩnh mạch trụ trái (tĩnh mạch cỡ trung bình) đã khâu nối kết quả tốt, không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Thông tư hiện hành nên không có căn cứ tỉnh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Kết luận giám định số 698/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 03 tập tin video được lưu trong 01 đĩa CD ghi lại diễn biến sự việc không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Ngày 08/12/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã đối với Bùi Văn D. Đến ngày 17/12/2023, D đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A và Phạm Tiến T2 khai toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Do đã đồng ý đi cùng T để đánh nhau nên khi thấy T và Hoàng A lao vào dùng tay chân đánh anh Bùi Đức N thì D dùng dao lao vào chém gây thương tích cho N. Mặc dù T2 cũng không có mâu thuẫn với N và cũng không được bàn bạc trước với nhóm của T, Hoàng A và D về việc đi đánh nhau với N nhưng T2 đã chủ động lấy 01 con dao mèo đứng đợi để đánh anh N khi có xô xát giữa nhóm của Hoàng A với N. Khi
thấy T, Hoàng A dùng tay chân đánh N còn Danh cầm theo dao đuổi chém anh N nên thì T2 cũng cầm dao xông vào đuổi đánh N nhưng chưa kịp gây thương tích cho anh N. Sau khi sự việc xảy ra, bản thân Hoàng A cũng bị D chém gây thương tích làm giảm 6% sức khỏe, tuy nhiên Hoàng A có đơn đề nghị không khởi tố và không có yêu cầu bồi thường dân sự đối với D. Các bị cáo D, Hoàng A, T đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại Bùi Đức N tổng số tiền là 150.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra bị hại là anh Bùi Đức N khai nhận phù hợp với nội dung trên. Sau khi sự việc xảy ra, các gia đình bị cáo T, D, Hoàng A đã khắc phục bồi thường số tiền 150.000.000 đồng, anh N đã nhận tiền và không yêu cầu đề nghị gì khác đối với các bị cáo trên. Anh N đề nghị T2 phải bồi thường thêm số tiền 50.000.000 đồng để hỗ trợ điều trị cho anh.
Về vật chứng: 01 xe mô tô BKS 16R1-5416 thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Anh T3, sinh năm 1973 (bố đẻ của anh Bùi Đức N) nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3 quản lý, sử dụng.
Đối với 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát màu xanh trắng của Phạm Văn T, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
Về dân sự: Các bị cáo Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Văn T đã bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng cho anh Bùi Đức N, anh N đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì đối với các bị cáo. Anh N đề nghị Phạm Tiến T2 bồi thường cho anh số tiền 50.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 170/CT-VKSTN ngày 14 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 giữ nguyên lời khai như nội dung bản cáo trạng, ngoài ra trình bày thêm như sau: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng. Các bị cáo rất ân hận vì hành vi của mình, khi bị cáo Bùi Văn D chém anh Bùi Đức N không nhằm mục đích tước đi tính mạng của anh N. Bị cáo Phạm Tiến T2 đồng ý bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho anh Bùi Đức N.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T;
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn D, Ngô Hoàng A;
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tiến T2,
Đề nghị xử phạt:
- + Bị cáo Phạm Văn T: Từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023.
- + Bị cáo Bùi Văn D: Từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2023.
- + Bị cáo Ngô Hoàng A: Từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023.
- + Bị cáo Phạm Tiến T2: Từ 05 năm đến 06 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là: Từ 06 năm 03 tháng đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2023.
- Về dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xử, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Tiến T2 bồi thường cho bị hại anh Bùi Đức N số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô BKS 16R1-5416 thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Anh T3, sinh năm 1973 (bố đẻ của anh Bùi Đức N) nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3 quản lý, sử dụng. Đối với 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát màu xanh trắng của Phạm Văn T, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, riêng bị cáo Phạm Tiến T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D và Ngô Hoàng A đều đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:
[2.1] Ngày 19/8/2023, tại quán X thuộc tổ P, thị trấn M, huyện T, Hải Phòng, do có mâu thuẫn trong việc giao hàng qua dịch vụ chuyển phát giữa anh Bùi Đức N với Phạm Văn T nên T đã chuẩn bị hung khí là 02 con dao (01 dao bài và 01 dao mèo) rồi rủ Bùi Văn D, Ngô Hoàng A đi đánh anh N. Trong quá trình đánh nhau, D đã dùng dao (dạng dao bài) chém gây thương tích cho anh Bùi Đức N với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 36% nhưng không nhằm tước đi tính mạng của anh Bùi Đức N.
[2.2] Phạm Tiến T2 tuy không có sự bàn bạc trước với Phạm Văn T, Bùi Văn D và Ngô Hoàng A về việc đi đánh nhau với anh Bùi Đức N nhưng tại quán I, khi biết việc Hoàng A đang giải quyết mâu thuẫn với anh N, T2 chủ động lấy dao đứng đợi với mục đích đánh anh N để bênh vực Hoàng A. Khi Hoàng A, T và D xông vào đánh anh N thì T2 cũng cầm dao (dạng dao mèo) đuổi theo anh Bùi Đức N từ khu vực sân vào trong quán để chém anh N nhưng không chém được do không tiếp cận được anh N. Vì vậy, Phạm Tiến T2 phải chịu chung hậu quả về việc anh Bùi Đức N bị tổn thương cơ thể là 36%.
[2.3] Chính vì vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt, các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 đã có dùng hung khí nguy hiểm (dao) chém gây thương tích cho anh Bùi Đức N. Hành vi của các Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 thể hiện việc coi thường pháp luật, sức khoẻ của người khác, có tính chất côn đồ. Bị hại anh Bùi Đức N bị thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 36% sức khỏe nên các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2 bị xét xử theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về vai trò: Đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò để đánh giá về hình phạt. Trong vụ án này, Phạm Văn T người khởi xướng, rủ rê các bị cáo Bùi Văn D, Ngô Hoàng A, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội để thương tích cho bị hại, dùng tay chân đánh bị hại; bị cáo Bùi Văn D là người thực hành tích cực, trực tiếp gây lên thương tích cho bị hại. Do đó, vai trò của bị cáo Phạm Văn T và bị cáo Bùi Văn D cơ bản là ngang nhau và cao nhất trong vụ án. Bị cáo Ngô Hoàng A là người giúp sức: Bị cáo dùng tay chân đánh bị hại và kéo áo để ôm giữ bị hại để bị cáo Bùi Văn D chém bị hại. Vai trò của bị cáo Ngô Hoàng A thấp hơn bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D. Bị cáo Phạm Tiến T2 có vai trò giúp sức trong việc hỗ trợ các bị cáo khác: Bị cáo cầm dao giấu vào trong người đứng sân quan sát nếu N đánh Hoàng A thì T2 đánh N để bênh Hoàng A, cầm dao đuổi theo để chém bị hại nhưng do điều kiện khách quan (vướng ghế máy tính, lối đi hẹp và Hoàng A, Bùi Văn D ở phía trước) nên bị cáo không tiếp tục đuổi theo đánh bị hại. Do đó, vai trò của bị cáo Phạm Tiến T2 thấp nhất trong vụ án.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Riêng đối với bị cáo Phạm Tiến T2 tại Bản
án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2023 (thời điểm phạm tội 17 tuổi 06 tháng 22 ngày), không coi là án tích vì: Bản án này có hiệu lực pháp luật sau thời điểm Phạm Tiến T2 thực hiện hành vi phạm tội lần này nhưng cũng cần phải đánh giá bị cáo Phạm Tiến T2 có nhân thân không tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A và Phạm Tiến T2 sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A tự nguyện và tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Bùi Văn D và bị cáo Ngô Hoàng A đều có ông ngoại là Trần Văn C1 là người có công với Cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huy hiệu 55 tuổi đảng, bà ngoại là Lê Thị T4 được tặng thưởng Huy hiệu 55 tuổi đảng; bị cáo Bùi Văn D ra đầu thú được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng đối với các bị cáo Bùi Văn D và Ngô Hoàng A.
- Về hình phạt:
[8] Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất và mức độ hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng phạm mang tính chất giản đơn nên cần xem xét, khoan hồng đối với các bị cáo để các bị cáo được sớm trở về với gia đình, xã hội, trở thành công dân tốt. Song xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo gây hậu quả rất nghiêm trọng, có tính chất côn đồ, thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, trong đó: Mức hình phạt của các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D cơ bản ngang nhau và cao hơn hình phạt các bị cáo Ngô Hoàng A, Phạm Tiến T2. Bị cáo Ngô Hoàng A có vai trò cao hơn bị cáo Phạm Tiến T2 nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn, bị cáo Phạm Tiến T2 có nhân thân xấu. Tuy nhiên, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo Phạm Tiến T2 mới 17 tuổi 10 tháng 13 ngày, do đó cần áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xem xét về hình phạt cho bị cáo Phạm Tiến T2 nên hình phạt của Phạm Tiến T2 thấp hơn bị cáo Ngô Hoàng A.
[9] Riêng đối với bị cáo Phạm Tiến T2: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2023. Bị cáo Phạm Tiến T2 đang chấp hành án. Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự cần tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng với hình phạt đối với Bản án này, để quyết định hình phạt chung.
- Về dân sự:
[10] Bị hại anh Bùi Đức N đã nhận tổng số tiền bồi thường 150.000.000 đồng từ các bị cáo Phạm Văn T, Ngô Hoàng A, Bùi Văn D, bị hại không yêu cầu các bị cáo Phạm Văn T, Ngô Hoàng A, Bùi Văn D bồi thường thêm khoản nào khác. Bị hại Bùi Đức N yêu cầu bị cáo Phạm Tiến T2 bồi thường số 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên toà, mặc dù anh Bùi Đức N vắng mặt nhưng bị cáo Phạm Tiến T2 đồng ý bồi thường cho anh Bùi Đức N số tiền 50.000.000 đồng theo yêu cầu của anh Bùi Đức N. Việc bị cáo Phạm Tiến T2 đồng ý bồi thường cho anh Bùi Đức N là tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của anh Bùi Đức N nên cần được chấp nhận. Do đó, cần buộc bị cáo Bùi Đức T5 bồi thường cho anh Bùi Đức N số tiền 50.000.000 đồng.
- Về vật chứng:
[11] Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô BKS 16R1-5416 thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Anh T3, sinh năm 1973 (bố đẻ của anh Bùi Đức N) nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3 quản lý, sử dụng. Đối với 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát màu xanh trắng của Phạm Văn T, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau. Đối với vấn đề trên, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
[12] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Phạm Tiến T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T;
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn D, Ngô Hoàng A;
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tiến T2,
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn D, Ngô Hoàng A và Phạm Tiến T2 đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt, xử phạt:
- + Bị cáo Phạm Văn T: 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023.
- + Bị cáo Bùi Văn D: 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2023.
- + Bị cáo Ngô Hoàng A: 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2023.
- + Bị cáo Phạm Tiến T2: 05 (Năm) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là: 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2023.
2. Về dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xử: Bị cáo Phạm Tiến T2 bồi thường cho bị hại anh Bùi Đức N số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền bồi thường thiệt hại cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều
Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Tiến T2 phải nộp 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo (có mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại anh Bùi Đức N (vắng mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích (criminal case)
- Số bản án: 175/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Thắng + bị cáo khác
