Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HS-ST

Ngày: 16/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đông
  • Ông Nguyễn Hữu Đệ
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 16/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang L, sinh năm 2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Khu D, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P; Vợ con chưa có; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ 1; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất nhập cảnh.

Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 2002; Nơi đăng ks hộ khẩu thường trú: Khu C, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện nay: Đ, thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Quý N1, sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  2. Vắng mặt tại phiên tòa.

  3. Bà Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu C, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện nay: Đ, thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
  4. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Nguyễn Quang L và anh Nguyễn Mạnh T1, anh Nguyễn Ngọc C đều thường trú tại Khu D, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ là bạn bè cùng quê, chơi với nhau từ nhỏ. Anh T2 và anh C cùng thuê phòng trọ P1 thuộc khu trọ của bà Trần Thị L1, sinh năm 1959 có địa chỉ tại Đ, thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội để ở. Ngày 15/03/2024, Nguyễn Quang L đến phòng trọ của anh T2 chơi và ở lại một vài hôm. Trong quá trình chung sống với nhau anh T2 thường xuyên cho L mượn chiếc xe máy hiệu Honda Winner, BKS: 19F1- 292.64 để đi lại. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21/03/2024, L tiếp tục hỏi anh T2 mượn xe máy Honda Winner để chạy xe ôm, anh T2 đồng ý. Khoảng 8 giờ cùng ngày, khi anh T2 và anh C còn đang ngủ, L đã lấy chìa khóa xe anh T2 để ở đầu giường và điều khiển xe rời khỏi khu trọ. Lúc này, bà L1 đang tắt đèn điện ở khu trọ thì nhìn thấy L điều khiển xe máy Honda Winner của anh T2 đi ra ngoài. L đi tới khu vực Cổng A KCN Bắc Thăng Long thuộc địa phận xã K, huyện Đ, Hà Nội đứng chờ khách, để chạy xe ôm. Đợi khoảng hơn 1 tiếng vẫn không có khách, do thiếu tiền tiêu xài, L nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe của anh T2 để lấy tiền. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe tới quán S ở thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội do anh Võ Quý Nguyên s năm 1984 thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội làm chủ để cầm cố. Anh N1 hỏi giấy tờ xe, L nói để ở nhà. Sau khi thỏa thuận, anh N1 đồng ý nhận cầm cố chiếc xe của L với giá 5.000.000 đồng, lãi suất là 150.000đ/tuần/tổng số tiền. Quá trình giao dịch giữa anh N1 và L không viết giấy tờ, cũng không có ai chứng kiến. Số tiền thu được từ việc cầm cố xe máy L đã tiều xài cá nhân hết. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh T2 ngủ dậy không thấy xe máy đâu, anh T2 gọi điện cho L nhưng không liệc lạc được. Khoảng 17 giờ cùng ngày, anh T2 và anh C đi ăn cơm thì phát hiện xe máy của anh T2 đang dựng ở trong quán S. Anh T2 vào quán hỏi thì được anh N1 cho biết L đã cầm cố chiếc xe ở đây với giá 5.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát huyện Đ, Nguyễn Quang L khai nhận hành vi mượn xe của anh T2 rồi đem cầm cố như nêu trên, lời khai của L phù hợp với tài liệu điều tra đã thu thập được.

Về vật chứng tạm giữ: 01 xe máy Honda Winner, BKS: 19F1- 292.64, số khung: 2609JY201644, số máy: KC26E1247207, màu sơn: đen vàng đồng, đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá tài sản số 68 ngày 04/4/2024 Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • - 01 xe máy nhãn hiệu Honda Winner mang BKS: 19F1-292.64, màu sơn đen vàng có trị giá là 19.500.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra làm rõ chiếc xe máy đăng ký tên bà Nguyễn Thị Hương G (mẹ đẻ của anh T2). Bà G giao xe cho anh T2 quản lý và sử dụng từ năm 2020. Ngày 25/4/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà G chiếc xe máy trên.

Về bồi thường dân sự: Ngày 14/4/2024 Nguyễn Quang L đã tự nguyện bồi thường cho anh T2 số tiền 2.000.000 đồng, L xác định là tiền mất thu nhập của anh T2 kể từ ngày L chiếm đoạt xe của anh. Anh T2 đã nhận tiền bồi thường và viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với L.

Ngày 08/5/2024 Nguyễn Quang L đã bồi thường cho anh Võ Quý N1 số tiền 5.000.000 đồng. Anh N1 đã nhận đủ và không có yêu cầu gì khác.

Đối với anh Võ Quý N1 có hành vi cầm cố xe máy, mặc dù anh N1 không biết chiếc xe máy là tài sản do Nguyễn Quang L phạm tội mà có, nhưng anh N1 nhận cầm cố xe máy khi không có giấy phép kinh doanh vi phạm Điều 6 Nghị định 98 ngày 26/8/2020 của Chính Phủ. Cơ quan điều tra có công văn đề nghị Chủ tịch UBND huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.

Tại cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 06/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Nguyễn Quang L từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 20 đến 36 tháng. Không phạt tiền bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
  2. [2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quang L tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra như: Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Quang L đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. [3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
    • - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
    • - Về nhân thân: Xác định bị cáo Nguyễn Quang L có nhân thân tốt.
    • - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:

    • + Tình tiết tăng nặng: Không
    • + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Quang L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  2. [4] Về hình phạt:

    - Hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Quang L đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội trong lĩnh vực trật tự quản lý hành chính. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị nhà nước quy định là tội phạm, nhưng bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã lợi dụng lòng tin của bị hại và dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Đ nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung. Khi lượng hình cũng cần phải xem xét đến nguyên nhân phạm tội của bị cáo trong vụ án để có hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi. Trong vụ án này nguyên nhân bị cáo L có hành vi phạm tội xuất phát từ việc nhận lợi dụng lòng tin của bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại để tiêu sài cá nhân. Tuy nhiên bị cáo sau khi phạm tội đã khắc phục hết hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội để trở thành người tốt cũng có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

    - Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền...Tuy nhiên bị cáo hiện không có thu nhập nên Hội đồng xét xử áp không dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

  1. [5] Về trách nhiệm dân sự:

    Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không còn yêu cầu gì về dân sự nên không phải xem xét, giải quyết.

  2. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 65, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Căn cứ: Điều 106, 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Quang L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Quốc L2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Tứ Hiệp, Hạ Hoà, Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Sở TP tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 175/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger