Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 175/2023/HSST

Ngày: 14 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Thức;
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang.

Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP . xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 170/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Nghiêm Quốc T; sinh năm 1989, tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ D, khu phố B, phường L, TP, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: nhân viên bán vé xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Văn S, sinh năm 1957 và bà Trần Thị T1 (chết); vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày: 29/01/2023. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Công ty TNHH MTV D; trụ sở: 71A đường B, phường T, quận T, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Trường C, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Hồ Thị Thùy T2, sinh năm 1997; trú tại: 5 đường T, phường P, quận T, TP . (theo Văn bản ủy quyền ngày 27/01/2023). (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nghiêm Quốc T là nhân viên chăm sóc khách hàng của Công ty TNHH MTV D (Công ty D) từ ngày 13/01/2023, có trụ sở tại số E B, phường T, quận T do anh Võ Trường C là đại diện. Công việc T được giao là hàng ngày tư vấn cho khách, thu tiền cước hàng hóa ký gửi và tiền bán vé xe đi và về cho khách hàng và trong suốt quá trình làm việc thì toàn bộ số tiền thu được đều do T phụ trách quản lý (giao việc bằng lời nói). Sau khi nhận tiền của khách hàng xong thì cuối ngày T có nhiệm vụ chuyển khoản, giao nộp toàn bộ số tiền của khách hàng lại cho chị Hồ Thị Thu T3 để chị T3 thống kê doanh thu hàng ngày và chuyển tiền vào tài khoản của Công ty D.

Từ ngày 23/01/2023, lợi dụng việc thu tiền từ các khách hàng T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng thủ đoạn không nộp tiền lại cho chị T3 rồi chiếm đoạt số tiền của Công ty. Cụ thể:

  • Ngày 23/01/2023 T thu của khách hàng tổng số tiền 39.770.000 đồng nhưng chỉ đưa lại cho chị T3 số tiền 19.070.000 đồng, còn lại số tiền 20.700.000 đồng thu của khách hàng thông qua tài khoản ngân hàng T4 số 02584434301 mang tên NGHIÊM QUỐC TRÍ thì T đã trả cho khách huỷ vé là 850.000 đồng. Số tiền còn lại là 19.850.000 đồng, T không chuyển cho chị T3 và nói tài khoản ngân hàng của T bị lỗi nên không chuyển được, để chiếm đoạt số tiền 19.850.000 đồng
  • Ngày 24/01/2023 T thu của khách hàng tổng số tiền 37.800.000 đồng nhưng T không đưa lại cho chị T3. T chiếm đoạt hết số tiền này.
  • Ngày 25/01/2023 T thu của khách hàng tổng số tiền 46.700.000 đồng, trả cho khách huỷ vé là 2.300.000 đồng, số tiền còn lại là 44.400.000 đồng thì T không chuyển trả lại cho chị T3. T chiếm đoạt số tiền 44.400.000 đồng.
  • Ngày 26/01/2023 T thu của khách hàng tổng số tiền 40.380.000 đồng thì T không chuyển trả lại cho chị T3. T chiếm đoạt hết số tiền này.
  • Ngày 27/01/2023 T thu của khách hàng số tiền 9.620.000 đồng, trả cho khách huỷ vé là 9.300.000 đồng, còn lại số tiền 320.000 đồng thì T không chuyển trả lại cho chị T3. T chiếm đoạt hết số tiền này.

Lúc này, do đã nhiều lần hỏi thì T nói do tài khoản ngân hàng của T bị lỗi nên chưa thể chuyển cho chị T3 được nên đến ngày 27/01/2023, chị T3 yêu cầu T đến Ngân hàng T4 rút tiền nộp cho Công ty thì T chỉ nộp được số tiền 16.540.000 đồng. Còn số tiền 126.210.000 đồng T sử dụng đánh bạc trên mạng thua 100.000.000 đồng, số tiền 26.210.000 đồng T tiêu xài cá nhân hết và không có khả năng chi trả cho Công ty nên chị T3 đến Công an phường trình báo sự việc trên. Qua truy xét, Công an đã bắt được Nghiêm Quốc T.

Tại Cơ quan điều tra, Nghiêm Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia 195, màu đen, số imei: 358892077051694, T sử dụng để liên lạc cá nhân.
  • Vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 103/PNK ngày 20/6/2023.
  • 01 CPU hiệu Model: F3260 - 5 màu đen, T sử dụng để đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã tách vật chứng này để điều tra về hành vi đánh bạc;
  • 01 phiếu doanh thu nhận hàng từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, 01 phiếu doanh thu vé từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, 01 phiếu doanh thu xuất kho từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023 (bản photo);
  • 01 văn bản của Công ty D quy định về công việc và trách nhiệm cho nhân viên phòng vé chăm sóc khách hàng của nhân viên: Nghiêm Quốc T (bản photo);
  • 01 giấy uỷ quyền của ông Võ Trường C là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV D, uỷ quyền cho bà Hồ Thị Thùy T2;
  • 01 Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số: 4300735838 – 001 đăng ký lần đầu: 05/08/2015, tên chi nhánh: CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV D (bản photo);
  • 01 văn bản quy chế làm việc của Công ty D đối với nhân viên Nghiêm Quốc T.

Tất cả tài liệu trên hiện đang kèm hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: Chị Hồ Thị Thùy T2 là đại diện theo uỷ quyền Công ty TNHH MTV D yêu cầu Nghiêm Quốc T bồi thường số tiền 126.210.000 đồng nhưng T chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKSQ.TP ngày 02 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nghiêm Quốc T về tội: “Tham ô tài sản” theo điểm c,d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên Tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c,d khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nghiêm Quốc T từ 08 năm đến 09 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần dân sự và vật chứng.

- Bị cáo Nghiêm Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nghiêm Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, Nghiêm Quốc T lợi dụng việc được giao tư vấn cho khách, thu tiền cước hàng hóa ký gửi và thu tiền bán vé xe cho khách. Nghiêm Quốc T đã nhiều lần chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH MTV D với tổng số tiền: 126.210.000 đồng. Nên Cáo trạng số 171/CT-VKSQ.TP ngày 02 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nghiêm Quốc T về tội: “Tham ô tài sản” theo điểm c,d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Đối với hành vi đánh bạc qua mạng của Nghiêm Quốc T, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã cho T đăng nhập vào trang đánh bạc “web www.debet.win” để kiểm tra dữ liệu (lịch sử cá cược, lịch sử nạp tiền, rút tiền), nhưng qua kiểm tra các dữ liệu trên đã không còn lưu trữ trong tài khoản đánh bạc của T. Cơ quan điều tra đã có công văn gửi để xác minh trang Web và xác minh giao dịch các số tài khoản T nạp tiền đánh bạc nhưng đến nay chưa có kết quả. Hiện Cơ quan điều tra đã tách hành vi và tài liệu đối với hành vi “Đánh bạc” của Nghiêm Quốc T để tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Hồ Thị Thùy T2 là đại diện theo uỷ quyền Công ty TNHH MTV D yêu cầu Nghiêm Quốc T bồi thường số tiền 126.210.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị T2. Xét việc thỏa thuận giữa bị cáo và chị T2 là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo Nghiêm Quốc T phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH MTV D số tiền: 126.210.000 đồng là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia 195, màu đen, số Imei: 358892077051694, T sử dụng để liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 CPU hiệu Model: F3260 - 5 màu đen, T sử dụng để đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã tách vật chứng này để điều tra về hành vi đánh bạc. Tiếp tục giao cho Công an quận T, TP . tiếp tục điều tra xử lý theo thẩm quyền.
  • Đối với 01 phiếu doanh thu nhận hàng từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, 01 phiếu doanh thu vé từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, 01 phiếu doanh thu xuất kho từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023 (bản photo); 01 văn bản của Công ty D quy định về công việc và trách nhiệm cho nhân viên phòng vé chăm sóc khách hàng của nhân viên: Nghiêm Quốc T (bản photo); 01 giấy uỷ quyền của ông Võ Trường C là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV D, uỷ quyền cho bà Hồ Thị Thùy T2; 01 Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số: 4300735838 – 001 đăng ký lần đầu: 05/08/2015, tên Chi nhánh: CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV D (bản photo); 01 văn bản quy chế làm việc của Công ty D đối với nhân viên Nghiêm Quốc T. Xét các tài liệu trên là chứng cứ của vụ án, nên cần lưu hồ sơ vụ án.

[9] Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.310.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Nghiêm Quốc T phạm tội: "Tham ô tài sản".

[2] Áp dụng: điểm c,d khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nghiêm Quốc T 08 (tám) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 29/01/2023.

[3] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Buộc bị cáo Nghiêm Quốc T phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH MTV D số tiền: 126.210.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[4] Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Trả lại cho bị cáo Nghiêm Quốc T: 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia 195, màu đen, số imei: 358892077051694.
  • Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, TP .: 01 CPU hiệu Model: F3260 - 5 màu đen, T sử dụng để đánh bạc. Để tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 phiếu doanh thu nhận hàng từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, 01 phiếu doanh thu vé từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023, 01 phiếu doanh thu xuất kho từ ngày 23/01/2023 đến ngày 27/01/2023 (bản photo); 01 văn bản của Công ty D quy định về công việc và trách nhiệm cho nhân viên phòng vé chăm sóc khách hàng của nhân viên: Nghiêm Quốc T (bản photo); 01 giấy uỷ quyền của ông Võ Trường C là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV D, uỷ quyền cho bà Hồ Thị Thùy T2; 01 Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số: 4300735838 – 001 đăng ký lần đầu: 05/08/2015, tên Chi nhánh: CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV D (bản photo); 01 văn bản quy chế làm việc của Công ty D đối với nhân viên Nghiêm Quốc T .

Vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 103/PNK ngày 20/6/2023.

[5] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nghiêm Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.310.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nghiêm Quốc T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - CATP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2023/HSST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 175/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger