Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Hà

Ông Vũ Văn Thi

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn N, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1970 tại Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B Tỉnh Thủy, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Vũ Thị L; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 13/3/2024, tạm giam ngày 19/3/2024; có mặt.
  2. Nguyễn Thị T, sinh ngày 16 tháng 9 năm 1999 tại Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị T1; chưa có chồng và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 13/3/2024; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/3/2024; có mặt.
  3. Đinh Đức H1, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1992 tại Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn K và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 13/3/2024, tạm giam ngày 19/3/2024; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 13/3/2024, tại thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Công an xã H bắt quả tang Đinh Đức H1 có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong túi áo khoác của Học 01 túi nilon, kích thước 1,5x02cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT01); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 16P2-2791 cùng đăng ký xe. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. Học khai gói tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma túy đá vừa mua của Nguyễn Thị T ở thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng để sử dụng cho bản thân.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T, thu giữ 01 gói nilon kích thước 1,5x02cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX01) và 400.000 đồng là số tiền vừa bán ma túy cho H1. T khai gói tinh thể màu trắng thu giữ khi bị khám xét là ma túy đá của Nguyễn Văn N đưa cho T để bán kiếm lời.

Bản Kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng (mẫu QT01) là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,24 gam; Tinh thể màu trắng (mẫu KX01) là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,3 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị TĐinh Đức H1 khai nhận: NT thuê nhà sống chung với nhau ở thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng từ năm 2021. Do bản thân nghiện ma túy đá nên tối ngày 12/3/2024, N đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 02 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng/01 gói để sử dụng cho bản thân. Về nhà, do không có tiền đóng học cho con nên N nảy sinh ý định bán ma túy, N đưa cho T 02 gói ma túy đá vừa mua được và bảo T nếu có ai hỏi mua thì bán với giá 400.000 đồng/01 gói. Do làm việc ở gần nhà N nên H1 biết N nghiện ma túy đá, sáng ngày 13/3/2024 H1 đến nhà tìm N để hỏi xem còn ma túy không bán lại cho H1 nhưng N không có nhà, H1 gặp hỏi mua thì T bán cho 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Mua xong Học cất gói ma túy vào trong túi áo khoác đi về thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Cáo trạng số 181/CT-VKSAD ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn NNguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Đinh Đức H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị TĐinh Đức H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Các bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật, các bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đinh Đức H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Về hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn N 5.000.000đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Đức H1 từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sụng là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Đinh Đức H1.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đồng; trả lại cho bị cáo Đinh Đức H1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P2-2791 và 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P2-2791 đăng ký chủ sở hữu Phạm Năng Đ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Bản kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/3/2024, tại thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Đinh Đức H1 đã cất giữ trái phép ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,24 gam trên túi áo đang mặc để sử dụng cho bản thân. Nguyễn Văn NNguyễn Thị T đã bàn bạc để bán trái phép 02 gói ma túy Methamphetaime có tổng khối lượng là 0,54 gam để kiếm lời, trong đó Nguyễn Thị T đã bán được 01 gói ma túy Methamphetaime có khối lượng là 0,24 gam cho Đinh Đức H1 được 400.000 đồng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,24gam của bị cáo Đinh Đức H1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi bán trái phép chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,54 gam của bị cáo N và bị cáo T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N có bố đẻ tham gia cách mạng được tặng kỷ niệm chương, được Công an thành phố H tặng Giấy khen trong công tác nên bị cáo N được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về vài trò của các bị cáo, nhân thân và hình phạt: Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của NT, xét bị cáo N có vai trò cao hơn bị cáo T vì bị cáo N là người chuẩn bị ma túy, là người đề xuất việc bán ma túy để lấy tiền chi tiêu, do đó bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T. Xét nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu phạm tội nên áp dụng mức hình phạt tù ở mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo nên phạt bị cáo Nguyễn Văn N 5.000.000đồng để thu vào ngân sách Nhà nước, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thị TĐinh Đức H1.

[6] Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 400.000đồng là tiền bị cáo T bán ma túy mà có nên tịch thu vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P2-2791 hiện tại đăng ký đứng tên chủ sở hữu là anh Phạm Năng Đ nhưng chiếc xe này anh Đ đã bán cho Đinh Đức H1 là tài sản của H1 và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có yêu cầu xin lại nên trả lại xe cùng đăng ký xe cho Đinh Đức H1.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; các điều 17, 38 và 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Nguyễn Văn N tính từ ngày 13/3/2024. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn N 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) để thu vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; các điều 17, 38, 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của bị cáo Nguyễn Thị T tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ 06 (Sáu) ngày tạm giữ (từ ngày 13/3/2024 đến ngày 19/3/2024) vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Đức H1.

Tuyên bố bị cáo Đinh Đức H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Đinh Đức H1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Đinh Đức H1 tính từ ngày 13/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thị TĐinh Đức H1.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo Đinh Đức H1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P2-2791 màu xanh và 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P2-2791 màu xanh tên chủ xe Phạm Năng Đ (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Tịch thu vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền ngày 30/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị TĐinh Đức H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện An Dương;
  • - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện An Dương;
  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 175/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nghê + Thuý + Học
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger