|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 175/2024/HS-ST Ngày: 04-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vỵ.
- Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên toà:
Ông Nguyễn Duy Long-Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa:
Ông Lê Bá Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Mạnh T, sinh ngày 09 tháng 6 năm 1993, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số A đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh T1 (đã chết) và bà Dương Thị Minh T2, sinh năm 1971; Vợ: chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thanh V, có một con, sinh năm 2022; Anh em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất;
Quá trình nhân thân:
- Ngày 31/3/2011, bị Công an phường V, thành phố H xử phạt 500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (QĐ số: 34176);
- Ngày 09/3/2013, bị Công an phường T, thành phố H xử phạt 150.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng" (QĐ số: 335);
- Ngày 28/5/2013, bị Công an phường P, thành phố H xử phạt 750.000 đồng về hành hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (QĐ số: 4211).
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, sau đó bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024, khởi tố chuyển tạm giam ngày 18/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Tường V1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Nhà số F đường X, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
* Người chứng kiến:
Anh Lê Hữu K, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Số F kiệt G Ông Í, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Vũ Mạnh T điều khiển mô tô biển số 75B1-437.55 (xe mượn của chị Nguyễn Thị Tường V1, sinh 1979, nơi cư trú: nhà số F đường X, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) đi đến đường T rẽ vào kiệt đường T, phường Đ, thành phố H tìm người bán ma túy để mua nhằm mục đích sử dụng. Tại đây, T gặp một nam thanh niên (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch, địa chỉ) mua 1.500.000 đồng ma túy, loại Heroine.
Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần của mình đang mặc trên người rồi điều khiển xe về nhà chị Nguyễn Thị Tường V1 để trả xe. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe đi đến trước khu vực nhà số F đường X, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bị tổ công tác đặc biệt 1311 - Công an thành phố H kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái của T đang mặc trên người 01(một) túi nilong màu trắng viền cam bên trong chứa chất bột khô màu trắng. T khai nhận đó là ma túy loại H, T mua nhằm mục đích để cá nhân sử dụng.
* Vật chứng, đồ vật tạm giữ gồm:
- 01 (một) túi ni lông màu trắng viền cam bên trong chứa chất bột khô màu trắng màu trắng (sau khi tạm giữ, đã niêm phong theo quy định);
- 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng;
- 01(một) xe mô tô biển kiểm soát 75B1-437.55.
* Tại Bản kết luận giám định số: 23/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
“Chất bột khô màu trắng có khối lượng là 0,5153g (không phẩy năm một năm ba gam), là ma túy, loại Heroine".
Sau khi giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ gồm: 0,4153g (không phẩy bốn một năm ba gam) chất bột khô màu trắng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong theo quy định.
* Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 75B1-437.55 là của chị Nguyễn Thị Tường V1, sinh năm 1979, trú tại địa chỉ số F đường X, phường Đ, thành phố H, chị V1 cho T mượn sử dụng nhưng không biết T sử dụng xe của chị V1 đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Tường V1 là có căn cứ. Đồng thời, cơ quan điều tra xác định điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đã thu giữ nêu trên T không dùng vào việc liên hệ mua ma túy, không dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó đã giao chiếc điện thoại di động trên cho mẹ của bị can là bà Dương Thị Minh T2 (sinh năm 1971) cất giữ, bảo quản.
Đối với số ma túy hoàn lại sau khi giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói niêm phong khi gửi giám định hiện đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 147/CT-VKSTPH ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Vũ Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/01/2024.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy:
0,4153g (không phẩy bốn một năm ba gam) chất bột khô màu trắng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của giám định viên Trần N, 02 (hai) chữ ký của điều tra viên Trần Đình T3, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H1 mẫu vật vụ Vũ Mạnh T, bắt ngày 11/01/2024”.
Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho Vũ Mạnh T quá trình điều tra không xác định được họ tên, nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị Tường V1 cho T mượn xe mô tô biển kiểm soát 75B1-43755 sử dụng nhưng không biết T sử dụng xe của chị V1 đi mua ma tuý sử dụng nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 11/01/2024, tại trước khu vực nhà số F đường X, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo Vũ Mạnh T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,5153 (Không phẩy năm một năm ba gam) ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị Cơ quan Công an tỉnh T phát hiện phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt quả tang. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo về hành vi trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Vũ Mạnh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy nhằm sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, sự phát triển của nòi giống và làm tăng tệ nạn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm ma tuý trên địa bàn như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Từ nhận định và căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho Vũ Mạnh T quá trình điều tra không xác định được họ tên, nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị Tường V1 cho T mượn xe mô tô biển kiểm soát 75B1-43755 sử dụng nhưng không biết T sử dụng xe của chị V1 đi mua ma tuý sử dụng nên không có căn cứ xử lý.
[4]. Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 0,4153g (Không phẩy bốn một ănm ba gam) chất bột khô màu trắng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là ma túy còn lại sau khi giám định, đây là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của giám định viên Trần N, 02 (hai) chữ ký của điều tra viên Trần Đình T3, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H1 mẫu vật vụ Vũ Mạnh T, bắt ngày 11/01/2024".
[5]. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Mạnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Mạnh T 01(Một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/01/2024.
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy: 0,4153g (Không phẩy bốn một năm ba gam) chất bột khô màu trắng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là ma túy còn lại sau khi giám định, đây là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của giám định viên Trần N, 02 (hai) chữ ký của điều tra viên Trần Đình T3, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H1 mẫu vật vụ Vũ Mạnh T, bắt ngày 11/01/2024".
Các vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
3.Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Mạnh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hương Lan |
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
7
Bản án số 175/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 175/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
