|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2025/HSST
Ngày: 12/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiên Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Hoàng Tú
- 2/ Ông Nguyễn Văn Vui
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình An - Kiểm sát viên.
Ngày 12/6/2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2025/TLST-HS ngày 29/05/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Cô S, giới tính: Nam; Sinh năm 1987 tại tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Họ tên cha: Võ Văn B, sinh năm: 1948; Họ tên mẹ: Bùi Thị C, sinh năm: 1950; Có con sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không có
Bị bắt, tạm giam từ ngày 25/02/2025;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1998; Địa chỉ: A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Đậu Khắc T, sinh năm 1970; Địa chỉ: A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trân Danh T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ D, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Cô S và chị Lê Thị N (sinh năm: 1998) có quan hệ tình cảm với nhau nhưng hiện chị N không tiếp tục quen với S mà chuyển sang quen với anh Đậu Khắc T. Anh T và chị N ở chung với nhau tại phòng trọ số 03 lầu 2 nhà số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và anh T có để số tiền 40.000.000 đồng (tất cả đều mệnh giá 500.000 đồng) ở trong hộc bàn tủ trang điểm tại phòng trọ. Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/02/2025, chị N cùng anh T rời khỏi phòng trọ để ra ngoài đi ăn. Khi đi, chị N có đóng cửa nhưng quên bấm khóa. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/02/2025, Võ Cô S một mình đến nhà trọ chị N ở để tìm Nơi nói chuyện. Do không có khóa chìa cổng để vào trong nên S nói với chị Trân Thị Thúy L (người đang ở trọ trong khu này) là S quên chìa khóa và nhờ chị L mở cổng giúp, chị L tưởng thật nên đã mở cửa cho S. Khi lên phòng chị N, S vặn nắm cửa đẩy vào thì mở được cửa. S thấy trong phòng không có ai và thấy có 01 điện thoại di động của chị N đang cắm sạc trên giường nên S đã nảy sinh ý định lấy trộm. Sau khi lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên trái đang mặc, S tiếp tục lục tìm tài sản khác thì S phát hiện xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng trong hộc bàn tủ trang điểm của chị N nên S lấy số tiền này bỏ vào túi quần trước bên phải. Lấy xong, S ra khỏi phòng đóng cửa lại và chạy về công ty đang làm ở Bình Dương rồi lấy số tiền trộm được ra đếm thì được tổng cộng là 40.000.000 đồng. Đến khoảng 5 giờ 30 phút sáng ngày 20/02/2025, chị N quay về phòng thì phát hiện bị mất trộm 01 điện thoại di động hiệu iPhone 16 Promax của chị N và số tiền 40.000.000 đồng tiền mặt (tất cả đều mệnh giá 500.000 đồng) của anh T.
Đến sáng ngày 20/02/2025, S nộp toàn bộ số tiền lấy trộm được vào tài khoản ngân hàng của mình số 0151000519547 mở tại ngân hàng V. Tiếp đó, S lấy điện thoại di động trộm của chị N ra, do đoán được mật khẩu là “989898” nên S đã dùng mật khẩu này để mở máy và tiếp tục vào phần tin nhắn thì phát hiện được mật khẩu iCloud của máy. Sau đó, S mang điện thoại đến cửa hàng kinh doanh điện thoại Tiến Phát do Trân Danh T1 làm chủ để bán. Do thấy S cung cấp được mật khẩu máy và thoát được tài khoản iCloud nên T1 tin là máy của S và mua với giá 20.000.000 đồng. T1 chuyển tiền mua điện thoại từ tài khoản ngân hàng của mình số [...] ngân hàng Á vào tài khoản ngân hàng số 0151000519547 mở tại ngân hàng V của S. Đến trưa ngày 20/02/2025, Công an tiến hành mời S về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và giao nộp số tiền 40.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 điện thoại di động hiệu iPhone 16 Promax bản 256 GB của chị N từ anh Trân Danh T1.
Kết luận định giá tài sản số 48/KLĐGTS-TCKH ngày 26/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 16 Promax bản 256 GB, có giá trị: 29.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 áo sơ mi ngắn tay màu tối, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi giày màu đen là trang phục S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 16 Promax. Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là chị Lê Thị N;
- Số tiền mặt 40.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là anh Đậu Khắc T;
- 01 usb chứa đoạn clip ghi nhận lúc S vào khu nhà trọ của chị N.
Trách nhiệm dân sự:
- Người bị hại chị Lê Thị N và ông Đậu Khắc T đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường.
- Anh T1 không yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền đã mua điện thoại di động do Võ Cô S mang đến bán.
Tại bản Cáo trạng số: 208/CT-VKSBTh ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Võ Cô S về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Cô S đã thừa nhận hành vi phạm tội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Cô S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Cô S từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Buộc bị cáo nộp lại 20.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận bổ sung, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai trái. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo làm lại cuộc đời, chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, dùng nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/02/2025 tại phòng 03 lầu 2 nhà số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Cô S đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu iPhone 16 Promax trị giá 29.500.000 đồng của chị Lê Thị N và số tiền 40.000.000 đồng tiền mặt của anh Đậu Khắc T rồi mang điện thoại đi bán cho anh T1 với giá 20.000.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi, bị cáo vẫn cố ý vi phạm. Đối chiếu với quy định pháp luật, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội cần phải bị xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã trả lại cho các bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:
Trách nhiệm dân sự:
- Người bị hại chị Lê Thị N và ông Đậu Khắc T đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Ông Trân Danh T1 không yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền đã mua điện thoại di động do Võ Cô S mang đến bán. Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Bị cáo được hưởng lợi 20.000.000 đồng từ việc bán tài sản trộm cắp. Do vậy cần truy thu, buộc bị cáo nộp lại 20.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
- 01 áo sơ mi ngắn tay màu tối, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi giày màu đen là trang phục Cô S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 usb chứa đoạn clip ghi nhận lúc S vào khu nhà trọ của chị N.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Cô S: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2025.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Buộc bị cáo Võ Cô S nộp lại 20.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu tối, 01 (một) quần jean dài màu xanh, 01(một) đôi giày màu đen;
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo, tính từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền Long |
Bản án số 175/2025/HSST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 175/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
