Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2025/HS-ST

Ngày: 30-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Dung, bà Trần Thị Thanh Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, Thông báo số: 296/2025/TB-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Trương Thị Thu T1, sinh ngày 22 tháng 01 năm 1998 tại Bình Thuận

Hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: quản lý nhà nghỉ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quang T2 và bà Trần Thị H; có 01 người con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ngày 08/12/2024 (theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08/12/2024), hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1992 tại Bình Thuận

Hộ khẩu thường trú: khu phố I, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân:

+ Ngày 04/4/2006, bị Chủ tịch UBND thành phố P ra Quyết định đưa vào trường G, huyện L, tỉnh Đồng Nai trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (theo Quyết định số 2474/QĐ-UBND). Năm 2008, chấp hành xong Quyết định.

+ Ngày 27/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HSST. Ngày 05/4/2019, chấp hành xong hình phạt. Ngày 08/6/2020 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị bắt ngày 08/12/2024 (theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08/12/2024), hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Trương Quang T2 là chủ nhà nghỉ T6 có địa chỉ tại B đường T thuộc khu phố A, phường P, thành phố P. Năm 2023, ông T2 giao lại nhà nghỉ trên cho Trương Thị Thu T1 (là con ruột của ông T2) quản lý, điều hành. Để tăng thêm lợi nhuận, từ cuối năm 2023, T1 sử dụng nhà nghỉ T6 để chứa mại dâm. Khoảng tháng 06/2024, T1 thuê Trần Văn B làm nhiệm vụ tiếp nhận khách thuê phòng, thu tiền phòng và tiền mua dâm của khách có nhu cầu mua dâm, đưa khách mua dâm lên phòng rồi báo cho T1 để T1 liên lạc với gái bán dâm đến nhà nghỉ bán dâm cho khách. Mỗi lượt mua dâm tại nhà nghỉ, khách phải trả 800.000 đồng, trong đó gái bán dâm hưởng 500.000 đồng, T1 hưởng 270.000 đồng, B hưởng 30.000 đồng.

Vào ngày 08/12/2024, T1 và B mở cửa nhà nghỉ T6 để cho khách thuê phòng lưu trú và thuê phòng mua dâm. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Ngô Thanh Đ1, Trần Văn T3 và Hà Văn H2 đến nhà nghỉ T6 để mua dâm. Bo thỏa thuận với Đ1 giá mua dâm là 700.000 đồng và tiền phòng là 100.000 đồng/người thì Đ1 đồng ý rồi đưa cho B 2.400.000 đồng. Nhận tiền xong, B đưa Đ1 lên phòng 202, H2 lên phòng 204 và T3 lên phòng 205 rồi B báo cho T1 biết việc có 03 khách đến mua dâm. T1 gọi Nguyễn Thị Thanh H3 (tên gọi khác là Y, đang có mặt tại nhà nghỉ), nhắn tin cho Lâm Thị Mỹ X và gọi cho Nguyễn Thị L đến nhà nghỉ T6 để bán dâm cho khách. B đưa H3 lên phòng 204 để bán dâm cho H2, đưa X lên phòng 202 để bán dâm cho Đ1, đưa L lên phòng 205 để bán dâm cho T3. Sau đó B đưa cho T1 2.400.000 đồng, T1 đưa lại cho B 1.500.000 đồng để B đưa cho H3, X và L mỗi người 500.000 đồng sau khi bán dâm xong.

Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, tại phòng số 202, Đ1 và X đã cởi hết quần áo để chuẩn bị giao cấu; tại phòng số 204, H3 và H2 đã cởi hết quần áo, H3 đang dùng tay kích thích dương vật của H2; phòng số 205, T3 và L đã cởi hết quần áo, L đang massage cho T3 thì bị Phòng C - Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang, đưa T1, B, H3, X, L, Đ1, T3 và H2 về trụ sở làm việc. Tại đây, T1, B và những đối tượng trên khai nhận hành vi của mình như nêu trên.

Quá trình điều tra, ông Trương Quang T2 khai: Nhà nghỉ T6 do ông T2 đứng tên chủ sở hữu, do ông T2 đã lớn tuổi nên năm 2023 ông T2 đã giao lại nhà nghỉ cho con gái là Trương Thị Thu T1 quản lý và quyết định mọi việc tại nhà nghỉ. Ông T2 không biết việc T1 đã sử dụng nhà nghỉ để chứa mại dâm.

Vật chứng của vụ án (Thu giữ tại nhà nghỉ T6):

  • - Thu giữ của Trương Thị Thu T1: 1.300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, số IMEI 1: 358265582619950 và số EMEI 2: 358265582763360.
  • - Thu giữ của Trần Văn B: 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820, số IMEI 1: 860900046857314, số IMEI 2: 860900046857306; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI 1: 354884083281468, số IMEI 2: 354884083281476.
  • - Thu giữ của Lâm Thị Mỹ X: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A15; 01 bao cao su có nhãn hiệu ULTRA THIN.
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị L: 06 bao cao su, màu vàng có nhãn hiệu Water & Lotus.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, quá trình điều tra xác định được, trong ngày 08/12/2024, T1 còn có hành vi môi giới để Trần Văn L1 và Hoàng Quang M mua dâm với Mai Thị Huyền T4 và Dương Thị Thu H4 tại nhà nghỉ A T5 thuộc thôn P, xã H, huyện H do ông Trương Trọng N quản lý, để T1 hưởng lợi 500.000 đồng/ 01 gái bán dâm. Cụ thể như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 08/12/2024, L1 liên lạc bằng tin nhắn qua ứng dụng Zalo yêu cầu T1 môi giới cho L1 02 gái bán dâm đến nhà nghỉ A T5 để L1 và M mua dâm thì T1 đồng ý. T1 và L1 thỏa thuận giá mua dâm là 2.000.000 đồng/lượt/người, L1 cho thêm 500.000 đồng để gái bán dâm trả tiền đi xe taxi. Sau đó L1 sử dụng số tài khoản 19035948744014 của L1 mở tại ngân hàng T7 chuyển 2.500.000 đồng vào số tài khoản 1034087382 mở tại ngân hàng V của T1. Nhận được tiền, T1 sử dụng tài khoản Zalo của T1 gọi đến tài khoản Z tên “Trang Milk” của T4 nói: “cần 02 bạn đến nhà nghỉ Anh T5 để tiếp khách” thì T4 hiểu là T1 gọi T4 đến nhà nghỉ Anh T5 để bán dâm đồng thời nhờ T4 tìm thêm 01 gái bán dâm nữa thì T4 đồng ý. T1 thỏa thuận giá bán dâm là 2.000.000 đồng/lượt/người, T4 và bạn T4 mỗi người được nhận 1.500.000 đồng, T1 nhận 500.000 đồng/01 người, T4 và bạn T4 sẽ được nhận thêm 500.000 đồng tiền đi xe taxi thì T4 đồng ý. Thỏa thuận với T1 xong, T4 gọi rủ H4 “cùng đi làm” thì H4 hiểu là đi bán dâm nên H4 đồng ý.

L1 sau khi chuyển tiền cho T1 thì điều khiển xe mô tô biển số 86B4-563.62 chở M đến nhà nghỉ A T5. Tại đây, L1 và M gặp ông N và thuê 02 phòng 102 và 204, sau khi hướng dẫn L1 và M lên phòng thì ông N lên võng nằm ngủ. Lúc này, T4 và H4 sau khi đến nhà nghỉ Anh T5 thì di chuyển bằng thang máy, H4 lên phòng 102, T4 lên phòng 204. Đến khoảng 23 giờ 15 phút ngày 08/12/2024, tại phòng 102, H4 và L1 đang quan hệ tình dục; tại phòng 204, T4 và M, đã quan hệ tình dục xong đang nằm thì bị Phòng C - Công an tỉnh B kiểm tra, bắt quả tang. Tại cơ quan điều tra, T4, H4, L1, M khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Quá trình điều tra, ông Trương Trọng N khai: Vào khoảng 21 giờ ngày 08/12/2024, ông N đang nằm trên võng tại quầy lễ tân khách sạn Anh T5 thì có 02 nam thanh niên đi vào thuê phòng. Sau khi cho 02 người thanh niên thuê phòng thì ông N lên võng nằm ngủ. Đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì ông N mới biết có 02 cô gái đã vào nhà nghỉ. Ông N không biết việc L1 và M thuê phòng để mua dâm.

Vật chứng của vụ án (Thu giữ tại nhà nghỉ A T5):

  • - Thu giữ tại phòng 102: 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 06 bao cao su màu xanh da trời chưa qua sử dụng.
  • - Thu giữ tại phòng 204: 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • - Thu giữ của Mai Thị Huyền T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng gold, số IMEI 1: 351104514493217; số IMEI 2: 351104514009237, có gắn sim số 0327.659.398.

Quá trình điều tra, ông Trương Quang T2 giao nộp số tiền 2.500.000 đồng là tiền mà T1 đã thu lợi bất chính từ việc môi giới mại dâm vào ngày 08/12/2024, T1 đã tác động gia đình giao nộp lại số tiền trên.

Xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A15 thu giữ của Lâm Thị Mỹ X và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng gold thu giữ của Mai Thị Huyền T4: Cơ quan điều tra đã trả lại cho X và T4.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 và 1.300.000 đồng thu giữ của Trương Thị Thu T1; 1.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của Trần Văn B; 01 bao cao su chưa qua sử dụng hiệu có nhãn hiệu ULTRA THIN, thu giữ của Lâm Thị Mỹ X; 06 bao cao su, màu vàng có nhãn hiệu Water & Lotus, thu giữ của Nguyễn Thị L; 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 06 bao cao su màu xanh da trời chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng 102 nhà nghỉ Anh T5; 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng thu giữ tại phòng 204 nhà nghỉ Anh T5; 2.500.000 đồng do ông Trương Quang T2 giao nộp, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Trương Thị Thu T1 về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 và “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Thu T1 về tội “Chứa mại dâm” với mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, tội “Môi giới mại dâm” với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51, xử phạt bị cáo Trần Văn B về tội “Chứa mại dâm” với mức án từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mưới bốn) tháng tù.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su chưa qua sử dụng hiệu có nhãn hiệu ULTRA THIN, thu giữ của Lâm Thị Mỹ X; 06 bao cao su, màu vàng có nhãn hiệu Water & Lotus, thu giữ của Nguyễn Thị L; 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 06 bao cao su màu xanh da trời chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng 102 nhà nghỉ Anh T5; 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng thu giữ tại phòng 204 nhà nghỉ Anh T5;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 và 1.300.000 đồng thu giữ của Trương Thị Thu T1, 1.500.000 đồng thu giữ của Trần Văn B, 2.500.000 đồng do ông Trương Quang T2 giao nộp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Trần Văn B.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 22 giờ 45 phútngày 08/12/2024, Trương Thị Thu T1 và Trần Văn B có hành vi sử dụng nhà nghỉ T6 thuộc khu phố A, phường P, thành phố P do T1 quản lý chứa 03 cặp mua bán dâm là Ngô Thanh Đ1 và Lâm Thị Mỹ X, Hà Thanh H5 và Nguyễn Thị Thanh H3, Trần Văn T3 và Nguyễn Thị L, để thu lợi bất chính. Khi X và Đ1 ở phòng số 202, H3 và H5 ở phòng số 204, L và T3 ở phòng số 205 của nhà nghỉ đang chuẩn bị quan hệ tình dục thì thì bị Phòng C - Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P bắt quả tang.

Ngoài hành vi nêu trên, vào lúc 23 giờ cùng ngày, Trương Thị Thu T1 còn có hành vi môi giới cho Dương Thị Thu H4 bán dâm cho Trần Văn L1 tại phòng 102, cho Mai Thị Huyền T4 bán dâm cho Hoàng Quang M tại phòng 204 nhà nghỉ Anh T thuộc thôn P, xã H, huyện H để hưởng lợi bất chính 500.000 đồng/ người thì bị lực lượng Phòng C - Công an thành phố P bắt quả tang.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật thế nhưng vì động cơ tư lợi, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xử lý của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng Trương Thị Thu T1 có tác động gia đình nộp lại tiền thu lợi bất chính, có cha được tặng “Huy chương chiến sĩ vẻ vang” và ông nội được tặng “Huân chương kháng chiến hạng ba” nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục. Hiện nay, tệ nạn mại dâm đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì, phát triển nếp sống văn hóa, văn minh của cộng đồng. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là hợp lý.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bao cao su chưa qua sử dụng hiệu có nhãn hiệu ULTRA THIN, thu giữ của Lâm Thị Mỹ X; 06 bao cao su, màu vàng có nhãn hiệu Water & Lotus, thu giữ của Nguyễn Thị L; 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 06 bao cao su màu xanh da trời chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng 102 nhà nghỉ Anh T5; 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng thu giữ tại phòng 204 nhà nghỉ Anh T5 là vật có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 là vật dùng để thực hiện hành vi phạm tội và tổng số tiền 5.300.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Trần Văn B.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 327; Điều 38; điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Trương Thị Thu T1 phạm tội “Chứa mại dâm” và “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Trương Thị Thu T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, 03 (ba) năm tù về tội “Môi giới mại dâm”, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2024,

Căn cứ: khoản 1 Điều 327, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Chứa mại dâm”

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2024,

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su chưa qua sử dụng nhãn hiệu ULTRA THIN, 06 bao cao su màu vàng có nhãn hiệu Water & Lotus, 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng và 06 bao cao su màu xanh da trời chưa qua sử dụng, 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, số tiền 5.300.000 đồng.

Trả lại cho Trần Văn B 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1820 và 01 điện thoại di động hiệu N1.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 150 ngày 15 tháng 4 năm 2025; số tiền 5.300.000 đồng đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1054627 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết tại Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền số 060525.0034.000172 ngày 06/5/2025 của Ngân hàng TMCP N2).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trương Thị Thu T1, Trần Văn B mỗi bị cáo có nghĩa vụ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/5/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (chứa mại dâm và môi giới mại dâm)

  • Số bản án: 175/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm - Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger