Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 175/2025/HS-PT

Ngày: 20 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Văn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh

Ông Trần Ngọc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai để xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1012/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Thị Phượng K, do có kháng cáo của bị hại và kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Huỳnh Thị Phượng K,

sinh ngày 23 tháng 11 năm 1971 tại tỉnh Vĩnh Long.

Nơi thường trú: Nhà số C đường P, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: làm thuê; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Huỳnh Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); có chồng là ông Nguyễn Việt H1 (đã ly hôn tháng 01/2023); có 02 người con; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Phượng K:

Luật sư Nguyễn Minh T1, Đoàn Luật sư tỉnh V, có mặt.

Luật sư Đỗ Hải B, Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Trần Hải Y, sinh năm 1979. Địa chỉ: Nhà số B đường P, Khóm B, Phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Luật sư Lôi Thị D, Đoàn Luật sư tỉnh V, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Việt H1, sinh năm 1968; vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Quốc A, sinh năm 1997; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Nhà số B Khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A:

Ông Võ Minh S, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A:

Luật sư Nguyễn Minh T1 – Luật sư của Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V, có mặt.

  1. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1979, vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Bà Huỳnh Kim C, sinh năm 1962, vắng mặt.

Địa chỉ: Số H ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

  1. Bà Huỳnh Thị Ngọc T3, sinh năm 1963, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Ông Huỳnh Phước H2, sinh năm 1966, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Trần Hải Y nguyên là kế toán của Công ty cổ phần C1 thuộc Tập đoàn T6. Gia đình Huỳnh Thị Phượng K có nghề sản xuất than đá tổ ong. Thông qua việc K thường mua than nguyên liệu của Công ty nơi bà Y làm việc nên giữa K và bà Y có sự quen biết nhau từ khoảng năm 2011. Đến năm 2015, K nói với bà Y về việc K có hùn tiền với một người bạn để làm dịch vụ cho vay đáo hạn ngân hàng, nếu bà Y có tiền thì đưa cho K vay, K sẽ trả lãi. Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019, bà Y nhiều lần cho K vay tiền và được K trả lãi, trả nợ gốc đầy đủ.

Theo K trình bày thì ngoài vay tiền của bà Y, K còn vay nợ nhiều người khác, trong đó có những đối tượng xã hội chuyên cho vay với mức lãi suất cao. Để có tiền trả nợ, K nói dối bà Y là K có quen biết một số cán bộ ngân hàng và có nhiều mối khách cần vay tiền để đáo hạn Ngân hàng trong thời gian ngắn, đồng ý trả cho bà Y mức lãi suất từ 5% đến 6%/tháng, thậm chí là 9%/tháng để bà Y cho vay tiền. Tin tưởng K, đồng thời do thấy mức lãi suất hấp dẫn nên bà Y đã nhiều lần chuyển khoản và đưa tiền mặt cho K vay. Nhận được tiền của bà Y, K dùng để trả nợ các khoản nợ vay cá nhân khác và một phần để trả lại cho bà Y dưới hình thức trả nợ gốc và trả tiền lãi; còn thực tế thì K không có mối quan hệ nào với nhân viên ngân hàng cũng như không có nguồn khách hàng có nhu cầu vay tiền để đáo hạn ngân hàng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2022, bà Y đã nhiều lần giao tiền mặt hoặc chuyển khoản cho K, tổng số tiền là 44.700.000.000 đồng. K đã trả lại cho bà Y tổng cộng được 24.441.100.000 đồng; trong đó bà Y xác định gồm 15.300.000.000 đồng tiền nợ gốc và 9.141.100.000 đồng tiền lãi.

Tháng 3/2023, các chị ruột của K là bà Huỳnh Thị Ngọc T3 và bà Huỳnh Kim C đã đồng ý chuyển nhượng cho bà Y quyền sử dụng hai thửa đất (gồm thửa số 496, tờ bản đồ số 6, diện tích 221,6 m² và thửa số 217, tờ bản đồ số 6, diện tích 4.364,4 m², cùng ở xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long) để trừ nợ cho K; bà Y đồng ý tổng giá trị hai thửa đất của bà T3 và của bà C là 8.000.000.000 đồng. Sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V khởi tố vụ án, tháng 9/2023 anh ruột của K là ông Huỳnh Phước H2 đồng ý chuyển nhượng cho bà Y quyền sử dụng thửa đất số 235, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.954,0 m², ở xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để trừ nợ cho K; bà Y đồng ý giá trị thửa đất của ông H2 là 2.000.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng các thửa đất nêu trên đã được thực hiện xong; bà Y đã đứng tên chủ sử dụng ba thửa đất nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định (tóm tắt):

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Huỳnh Thị Phượng K 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 02/10/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc Huỳnh Thị Phượng K phải hoàn trả lại cho bị hại Trần Hải Y số tiền đã chiếm đoạt là 10.258.900.000 đồng.

Để đảm bảo cho việc thi hành án phần trách nhiệm dân sự mà bị cáo có nghĩa vụ đối với bị hại nên Huỳnh Thị Phượng K, ông Nguyễn Việt H1, anh Nguyễn Quốc A không được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp các thửa đất sau: Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.493,9 m² (loại đất trồng cây lâu năm); thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11, diện tích 929,2 m² (loại đất trồng cây lâu năm), cùng tọa lạc khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và thửa đất số 411, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.032,3 m² (loại đất trồng cây ăn quả), tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do Huỳnh Thị Phượng K đứng tên quyền sử dụng đất.

(Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, nghĩa vụ do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

Ngày 01/10/2024, bà Trần Hải Y có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết các nội dung sau:

  1. Tăng hình phạt đối với Huỳnh Thị Phượng K vì bị cáo không chứng minh được số tiền chiếm đoạt của bị hại, bị cáo đã cho ai vay nợ và mua được tài sản gì.
  2. Yêu cầu khởi tố hình sự đối với ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A do đã đồng phạm với bị cáo để lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Y.
  3. Yêu cầu buộc bị cáo, ông Nguyễn Việt H1, anh Nguyễn Quốc A phải liên đới trả cho bà Y tổng số tiền vốn và lãi là 31.340.735.616 đồng.
  4. Yêu cầu kê biên các thửa đất gồm: Thửa đất số 22, thửa đất số 12, cùng tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long L và thửa đất số 411, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, để đảm bảo việc thi hành án.
  5. Yêu cầu định giá lại ba thửa đất (số 217, số 496 và số 235, cùng tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long) mà bà T3, bà C và ông H2 đã chuyển nhượng cho bà Y để trừ nợ cho bị cáo K theo giá trị thực tế hiện nay.

Ngày 04/10/2024, ông Nguyễn Việt H1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp cao phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hải Y về việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản đối với thửa đất số 22, tờ bản đồ 11, diện tích 1.493,9 m² loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 04/10/2024, anh Nguyễn Quốc A kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hải Y về việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 11, diện tích 929,2 m² loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Huỳnh Thị Phượng K thừa nhận hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm như bản án sơ thẩm đã mô tả, đồng thời xác nhận không kháng cáo và chấp nhận mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Người bị hại là bà Trần Hải Y thay đổi một phần nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo K, ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A phải liên đới trả cho bị hại số tiền nợ gốc là 29.400.000.000 đồng; giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo khác.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A vắng mặt, có người đại diện theo ủy quyền là ông Võ Minh S giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa:

Luật sư Đỗ Hải B nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm về mức hình phạt, về việc xác định ông H1 và anh Quốc A không phải là đồng phạm của bị cáo, cùng không có hành vi che giấu tội phạm và về không chấp nhận yêu cầu của bị hại về khoản tiền lãi do bị cáo đã lừa dối bị hại.

Luật sư Nguễn Minh T4 không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa về việc phong tỏa tài sản là quyền sử

dụng các thửa đất, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng giải tỏa 2 thửa đất (số B và số 12, tờ bản đồ số 11)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại trình bày quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm về việc phong tỏa tài sản là quyền sử dụng ba thửa đất (số 22, số 12 và số 411); ngoài ra cần xem xét việc bị cáo cùng chồng cũ là ông H1 đã bán hai căn nhà (một ở thị trấn L và một ở thành phố V) thu số tiền hơn 11 tỷ đồng nhưng không trả cho bị hại bất cứ một đồng nào là có dấu hiệu của việc tẩu tán tài sản. Thêm nữa, có sự trùng khớp giữa các lần bị hại chuyển tiền cho bị cáo K, ngay sau đó bị cáo K đã dùng số tiền này để chuyển cho bà S1, có nghĩa là bị cáo dùng tiền của bị hai để trả nợ cho người khác, nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ để thu hồi số tiền này, trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa sơ thẩm, tôi đã chứng minh từng giao dịch chuyển tiền có sự trùng hợp nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích các chứng cứ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, phát biểu quan điểm giải quyết kháng cáo của bị hại và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị hại và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời khai của bị cáo, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, luận cứ của người bào chữa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của người bị hại, đơn kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được làm trong thời hạn luật định và phù hợp về hình thức, nên là cơ sở để Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.

[2] Xét về trách nhiệm hình sự của bị cáo Huỳnh Thị Phượng K:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã mô tả; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo, đồng thời xác định chấp hành phán quyết của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời trình bày của người bị hại trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Từ đó có đủ cở sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 02/10/2019 đến ngày 21/10/2022, bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối là có quen một số cán bộ làm trong ngành ngân hàng và biết nhiều người có nhu cầu vay tiền để đáo hạn ngân hàng trong thời gian ngắn, trả lãi suất cao, Huỳnh Thị Phượng K đã khiến cho bà Trần Hải Y lầm tưởng là thật, từ đó bà Y đã nhiều lần giao tiền mặt và 64 lần chuyển khoản cho K tổng số tiền 44.700.000.000 đồng. Theo chính K khai nhận thì số tiền K nhận được từ bà Y, K đã dùng để trả nợ những khoản vay khác, cũng như trả ngược lại cho bà Y một phần dưới hình thức trả nợ gốc (số tiền 15.300.000.000 đồng)

và trả lãi vay (số tiền 9.141.100.000 đồng) nhưng thực chất là để tạo cho bà Y sự tin tưởng tiếp tục chuyển tiền cho bị cáo. Như vậy, bằng thủ đoạn gian dối, bị cáo đã chiếm đoạt được của người bị hại tổng số tiền là 44.700.000.000 đồng. Việc bị cáo trả ngược lại cho bà Y một phần tiền như đã nêu trên chỉ là thủ đoạn tạo niềm tin của bị cáo, nhằm đánh lừa người bị hại. Với hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm như trên, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết Huỳnh Thị P Kiều phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Xét kháng cáo của người bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, với lý do bị cáo không trình bày được việc sử dụng số tiền đã chiếm đoạt của bị hại vào những mục đích gì, thấy: Huỳnh Thị Phượng K đã chiếm đoạt của bà Trần Hải Y số tiền rất lớn (gần 45 tỷ đồng) và bị truy tố, xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Song chính trong khoảng thời gian thực hiện tội phạm, K đã chuyển lại cho bà Y tổng số tiền là 24.441.100.000 đồng, được bà Y nhiều lần xác nhận tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Ngoài ra, K cũng đã tác động các chị ruột và anh ruột chuyển nhượng quyền sử dụng đất của họ cho bà Y, tổng cộng trị giá 10.000.000.000 đồng để khắc phục bớt hậu quả. Tính đến thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án, số tiền K còn chiếm đoạt của bà Y và chưa khắc phục được là 10.258.900.000 đồng. Quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần này là lần đầu. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Nhưng bị cáo đã lừa dối bị hại trong một thời gian dài, nhiều lần chiếm đoạt tiền của bị hại, nên cũng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, hậu quả của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, từ đó xử phạt Huỳnh Thị Phượng K 16 (mười sáu) năm tù là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu răn đe, giáo dục riêng đối với người phạm tội cũng như yêu cầu phòng ngừa chung. Do đó bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của người bị hại đề nghị khởi tố hình sự đối với ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A do đã đồng phạm với Huỳnh Thị Phượng K chiếm đoạt tiền của bị hại, thấy: Quá trình điều tra đã xác định ông H1 (trước thời điểm tháng 01/2023 là chồng của bị cáo) và anh Quốc A (con đẻ của bị cáo) không biết việc K lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Y, cũng không che giấu hành vi phạm tội của Huỳnh Thị Phượng K. Bà Y cho rằng ông H1 và anh Quốc A đồng phạm với bị cáo K để chiếm đoạt tiền của bà, nhưng bà Y không cung cấp được nguồn chứng cứ, tài liệu để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể điều tra, xác minh làm rõ yêu cầu của bà. Do đó, kháng cáo của người bị hại về nội dung này là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A phải liên đới cùng bị cáo Huỳnh Thị Phượng K trả cho bị hại số tiền 29.400.000.000 đồng, thấy: Trong vụ án này, bị cáo đã có hành vi gian dối đối với bị hại, khiến cho bị hại lầm tưởng mà giao tiền cho bị cáo thông qua hình thức cho vay, nên giao dịch về vay tài sản giữa bị hại và bị cáo là vô hiệu ngay từ khi giao kết. Do đó, bị hại không được hưởng khoản tiền mà bị cáo trả cho bị hại dưới hình thức tiền lãi, mà phải xem đó là số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại và việc trả lại cho bị hại dưới hình thức trả lãi tiền vay chỉ là thủ đoạn của bị cáo, nên số tiền này được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đến thời điểm xét xử sơ thẩm, bị cáo còn chiếm đoạt của bị hại số tiền: 44.700.000.000 đồng – 15.300.000.000 đồng (bị cáo trả cho bị hại dưới hình thức trả một phần nợ gốc đã vay) – 9.141.100.000 đồng (bị cáo trả cho bị hại dưới hình thức trả lãi tiền vay) – 10.000.000.000 đồng (trị giá quyền sử dụng 03 thửa đất do bị hại đồng ý nhận của bà T3, bà C và ông H2 để trừ vào khoản tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại) = 10.258.900.000 đồng là chính xác. Số tiền 29.400.000.000 đồng là bị hại tự tính toán cho rằng đó là khoản nợ gốc, không phải là số tiền hiện bị cáo còn chiếm đoạt của bị hại. Cũng trong quá trình điều tra không xác định được ông H1, anh Quốc A đã sử dụng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại hay được hưởng lợi ích gì từ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, kháng cáo của bị hại đề nghị buộc ông H1 và anh Quốc A phải liên đới cùng bị cáo trả cho bị hại số tiền 31.340.735.616 đồng là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Xét kháng cáo của bị hại đề nghị định giá lại 03 (ba) thửa đất mà bà Huỳnh Thị Ngọc T3, bà Huỳnh Kim C và ông Huỳnh Phước H2 đã đồng ý chuyển quyền sử dụng cho bà Y để khắc phục một phần hậu quả của việc bị cáo K lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Y, thấy: Đầu tiên phải khẳng định là bà T3, bà C và ông H2 không có nghĩa vụ thay bị cáo K bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bà Y, nhưng đã tự nguyện dùng tài sản của mình giao cho bà Y để làm giảm hậu quả của tội phạm do K gây ra. Đây là việc làm rất nhân tâm của bà C, bà T3, ông H2 và có lợi cho người bị hại. Thứ nữa, việc xác định giá trị của các thửa đất là do sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Y với bà T3, bà C, ông H2, không bên nào ép buộc bên nào. Nếu bà Y không đồng ý nhận quyền sử dụng các thửa đất nêu trên thì số tiền bị cáo K chiếm đoạt của bà Y và chưa khắc phục được sẽ là 20.258.900.000 đồng, gần gấp hai lần số tiền hiện tại bị hại chưa thể thu hồi, nên sẽ là hậu quả nặng nề hơn cho bị hại. Cuối cùng là các giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất giữa bà T3, bà C, ông H2 với bà Y đã hoàn thành; bà Y đã được đứng tên chủ sử dụng các thửa đất này; đến nay bà T3, bà C, ông H2 cũng không có ý kiến thắc mắc gì. Do đó, kháng cáo của bị hại về nội dung này là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Xét kháng cáo của người bị hại và kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc kê biên, phong tỏa tài sản là thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.493,9 m² (loại đất trồng cây lâu năm), thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11, diện tích 929,2 m² (loại đất trồng cây lâu năm), cùng tọa lạc tại khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và thửa đất số 411, tờ bản đồ số 6,

diện tích 2.032,3 m² (loại đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, thấy:

[6.1] Căn cứ vào nội dung của các Văn bản số 3428/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 24/7/2023, Văn bản số 6172/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 06/12/2023 và Văn bản số 4446/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 07/8/2024 đều của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V trả lời Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì:

  • Thửa đất số 411, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.032,3 m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long có nguồn gốc gồm 02 (hai) thửa (thửa số 409 và thửa số 411, tờ bản đồ số 2) là của Huỳnh Thị Phượng K được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/6/1995. Đến năm 2006, K làm thủ tục cấp đổi, gộp thành thửa số 411, tờ bản đồ số 6, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2016. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K và ông Võ Minh S (đại diện theo ủy quyền choông Nguyễn Việt H1 đều xác nhận đây là tài sản riêng của Huỳnh Thị Phượng K. Cũng theo Văn bản số 3428/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 24/7/2023 nêu trên thì thửa đất này hiện không có thông tin đăng ký thế chấp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
  • Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.493,9 m², loại đất trồng cây lâu năm có nguồn gốc là của ông Nguyễn Việt H1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn A vào năm 2016, hiện “Hộ” ông Nguyễn Việt H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo lời trình bày của ông H1 tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V ngày 09/10/2023 thì đây là tài sản chung của vợ chồng ông (tức ông Nguyễn Việt H1 và Huỳnh Thị Phượng K). Ngày 16/01/2023, ông Nguyễn Việt H1 và Huỳnh Thị Phượng K thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 15/2023/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, nhưng chưa yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng, nên quyền sử dụng thửa đất nêu trên là tài sản chung của ông Nguyễn Việt H1 và Huỳnh Thị Phượng K. Ông H1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải tỏa tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11 nêu trên là không có cơ sở chấp nhận.
  • Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11 có nguồn gốc được gộp từ 03 (ba) thửa đất (số 66, số 67 và số 84, cùng tờ bản đồ số 11), trong đó: thửa số 66 là của bà Văn Thị L1 (chị dâu của ông H1) chuyển nhượng cho ông H1 năm 2002; thửa số 67 có nguồn gốc là của bà Văn Thị L1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh K1 năm 2002, đến năm 2008 thì ông K1 chuyển nhượng cho ông H1; thửa số 84 có nguồn gốc là của bà Văn Thị L1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Kim H3 năm 2002, đến năm 2011 thì bà H3 chuyển nhượng cho ông H1. Năm 2014, ông H1 làm thủ tục cấp đổi các phần đất nhận chuyển nhượng nêu trên, gộp thành thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11, diện tích 929,2 m², loại đất trồng cây lâu năm, đến ngày 31/12/2014 thì “Hộ ông Nguyễn Việt H1” được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Việt H1 và Huỳnh Thị

Phượng K kết hôn năm 1992. Việc ông H1 nhận chuyển quyền sử dụng các thửa đất số 66, số 67 và số 84, cùng tờ bản đồ số 11 là trong thời kỳ hôn nhân; đến năm 2014, ông H1 đăng ký kê khai đồng chủ sử dụng là Huỳnh Thị Phượng K (vợ).Từ khi Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho “Hộ ông Nguyễn Việt H1” đến thời điểm cuối năm 2022 thì ông H1 cũng không có ý kiến thắc mắc gì. Do đó, có đủ cơ sở xác định thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11, diện tích 929,2 m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là tài sản chung của ông Nguyễn Việt H1 và Huỳnh Thị Phượng K. Ông H1 kháng cáo cho rằng thửa đất này là tài sản riêng của ông, do ông được các anh chị ruột tặng cho riêng là không có cơ sở chấp nhận. Theo lời khai nhận của bị cáo và lời trình bày của ông H1, anh Quốc A thì cuối năm 2022, ông Nguyễn Việt H1 và Huỳnh Thị Phượng K ký kết hợp đồng tặng cho anh Nguyễn Quốc A (sinh năm 1997, là con đẻ của ông H1 và bị cáo K) quyền sử dụng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11 nêu trên. Đến ngày 23/12/2022, anh Nguyễn Quốc A được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tại thời điểm K và ông H1 ký hợp đồng tặng cho anh Quốc A quyền sử dụng thửa đất này thì Kiều buộc phải nhận thức được việc K đang chiếm đoạt của bà Y số tiền rất lớn, mất khả năng khắc phục hậu quả. Do đó, việc K cùng ông H1 tặng cho anh Quốc A quyền sử dụng thửa đất là có dấu hiệu tẩu tán tài sản, nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đối với người bị hại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quốc A kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không phong tỏa tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11 là không có cơ sở chấp nhận.

[6.2] Điều 126 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản”. Khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để đảm bảo bồi thường thiệt hại”. Do đó, trong vụ án này, để đảm bảo khắc phục hậu quả của tội phạm mà bị cáo đã gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại thì lẽ ra cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm phải căn cứ vào các điều 126, 128 của Bộ luật Tố tụng hình sự để kê biên tài sản là quyền sử dụng các thửa đất nêu trên. Trong tố tụng hình sự không có biện pháp phong tỏa tài sản, mà chỉ có biên pháp phong tỏa tài khoản. Tòa án cấp sơ thẩm không ra lệnh kê biên, mà lại thực hiện việc phong tỏa tài sản bằng cách không cho phép Huỳnh Thị Phượng K, ông Nguyễn Việt H1 và anh Nguyễn Quốc A được “chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp” các thửa đất, gồm: Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.493,9 m² (loại đất trồng cây lâu năm); thửa đất số 12, tờ bản đồ số 11, diện tích 929,2 m² (loại đất trồng cây lâu năm), cùng tọa lạc tại khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và thửa đất số 411, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.032,3 m² (loại đất

trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là không đúng quy định tại các điều 126, 128 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Cũng trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điền tra đã phát hiện thấy lịch sử giao dịch chuyển khoản của K trả tiền cho vợ chồng bà Trần Thị Thu S1, ông Nguyễn Đức T5 có thời gian giao dịch trùng khớp với thời gian bà Y chuyển khoản cho K. Về vấn đề này, tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 08/12/2023, K khai nhận: “Tôi khẳng định tôi vay tiền của những người sau để đóng tiền lãi và trả nợ gốc cho những khoản vay của những người tôi đã vay trước đó mà đến hạn phải trả, cho nên trong một thời điểm tôi vay của nhiều người để trả nợ vay cho những người khác nên thời điểm trùng nhau là chuyện bình thường. Cho nên lịch sử giao dịch chuyển khoản trả nợ vay cho bà S1, ông T5 thông qua tài khoản của Nguyễn Thị D1 có thời gian giao dịch hoàn toàn trùng khớp với thời gian Y chuyển khoản cho tôi vay cũng có thể là tôi vay tiền của Y để trả gốc và tiền lãi cho chị S1 và cũng có lấy tiền của Y để trả thêm cho những người khác; không phải tôi vay tiền của Y để trả toàn bộ cho chị S1, mà cũng có lấy nguồn tiền vay chỗ khác để trả cho chị SI”. Như vậy, nếu tại một thời điểm cụ thể, bà Y chuyển khoản cho K một số tiền nhất định, sau đó K chuyển khoản trả cho bà S1, ông T5 số tiền lớn hơn số dư trong tài khoản của K có trước khi bà Y chuyển khoản, thì đủ cơ sở xác định khoản chênh lệch giữa số tiền K chuyển trả cho bà S1, ông T5 và số tiền K có trong tài khoản trước khi bà Y chuyển khoản cho K chính là số tiền của bà Y được K sử dụng trả nợ cho bà S1, ông T5. Do đó, cần phải điều tra làm rõ từng giao dịch chuyển khoản giữa bà Y và K, rồi từ K chuyển khoản cho bà S1, ông T5 (thông qua tài khoản đứng tên bà Nguyễn Thị D1), để xác định được tổng số tiền K đã chiếm đoạt của bà Y và dùng để trả nợ cho bà S1, ông T5. Từ đó đưa bà Trần Thị Thu S1, ông Nguyễn Đức T5 vào tham gia tố tụng, để buộc bà S1, ông T5 phải giao nộp lại số tiền đó, vì đó là tài sản do K phạm tội mà có.

[8] Từ những nhận định trên, xét thấy việc điều tra vụ án ở cấp sơ thẩm đối với phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Huỳnh Thị Phượng K là chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Vì vậy, cần hủy một phần bản án sơ thẩm (phần giải quyết về trách nhiệm dân sự) để điều tra lại.

[9] Về án phí phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm nên những người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luạt Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại (bà Trần Hải Y), không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Việt H1, anh Nguyễn Quốc A), hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình

sự, xử phạt Huỳnh Thị Phượng K 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/10/2023.

  1. Hủy mục 2 phần Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (“Về bồi thường thiệt hại”), chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long để giải quyết theo quy định.
  2. Về án phí: Căn cứ các điểm f khoản 2 Điều 23, khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    • Bà Trần Hải Y, anh Nguyễn Quốc A, ông Nguyễn Việt H1 không phải chịu án phí phúc thẩm. H4 lại cho bà Trần Hải Y, anh Nguyễn Quốc A, ông Nguyễn Việt H1 mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015099 ngày 03/10/2024, số 0015106 ngày 07/10/2024 và số 0015107 ngày 07/10/2024.
    • Huỳnh Thị Phượng K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của Huỳnh Thị Phượng K sẽ được xác định lại khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long (1);
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long(1);
  • - Công an tỉnh Vĩnh Long (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long (1);
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Long (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • - Bị cáo; Người bào chữa; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án, 25b (PMT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Anh Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 175/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luạt Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại (bà Trần Hải Y), không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Việt H1, anh Nguyễn Quốc A), hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger