Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-6-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Long

Ông Nguyễn Bình Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2025/QĐ-ST ngày 13/06/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, sinh ngày 20/01/1995 (vắng mặt)
  2. Chứng minh nhân dân: [...]

    Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Anh T đang lao động tại Đài Loan.

    Anh T ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án cho chị Lưu Thu P, sinh năm 2002; Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (không triệu tập).

  3. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Phương N, sinh ngày 06/3/1994 (vắng mặt)
  4. Chứng minh nhân dân: [...]

    Chị N ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho Công ty L và Cộng sự; Địa chỉ: ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; Đại diện: Ông Vũ Văn T1, chức vụ Giám đốc điều hành (văn bản ủy quyền ngày 29/4/2024).

1

Công ty L và Cộng sự phân công chị Kiều Thu T2, sinh năm 2003; Nơi cư trú: tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam là nhân viên thuộc Công ty L thực hiện công việc ủy quyền (Quyết định số: 111/2025 /QĐ-LKP ngày 08/5/2025, không triệu tập chị T2).

  1. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  2. Bà Giáp Thị N1, sinh năm 1974 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 20/03/2025 (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn anh Vũ Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị N được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 04/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Đến khoảng năm 2019, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng sống không hòa thuận, bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Vì cuộc sống gia đình, năm 2021 anh và chị N sang Đài Loan để xây dựng kinh tế. Do sống xa nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mặc dù anh, chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm, được hai bên gia đình đông viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng. Nay anh nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh làm đơn này đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương N để anh sớm ổn định cuộc sống của bản thân.

Về con chung: anh, chị N có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Ánh N2, sinh ngày 31/7/2018. Hiện nay cháu N2 đang sinh sống cùng bà ngoại là bà Giáp Thị N1, sinh năm 1974 tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cháu N2 cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị N ở nước ngoài đề nghị Tòa án tạm giao cháu N2 cho bà N1 chăm sóc, nuôi dưỡng để không làm xáo trộn việc học tập, sinh hoạt của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh sẽ thỏa thuận với chị N, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh T trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra. Anh ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án cho chị Lưu Thu P, sinh năm 2002; Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Chị Nguyễn Thị Phương N là bị đơn trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh T được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 04/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Đến khoảng năm 2019, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng sống không hòa thuận, bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Vì cuộc sống gia đình, năm 2021 chị và anh T sang Đài Loan để xây dựng kinh tế. Do sống xa nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mặc dù anh, chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm, được hai bên gia đình đông viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn T để chị sớm ổn định cuộc sống của bản thân.

Về con chung: chị, anh T có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Ánh N2, sinh ngày 31/7/2018. Hiện nay cháu N2 đang sinh sống cùng bà ngoại là bà Giáp Thị N1, sinh năm 1974 tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu N2 cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị ở nước ngoài đề nghị Tòa án tạm giao cháu N2 cho bà N1 chăm sóc, nuôi dưỡng để không làm xáo trộn việc học tập, sinh hoạt của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh T tự thỏa thuận, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị N trình bày: Do bận công việc nên chị đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra. Chị N ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho Công ty L và Cộng sự; Địa chỉ: ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; Đại diện: Ông Vũ Văn T1, chức vụ Giám đốc điều hành.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Giáp Thị N1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân của anh T, chị N bà nhất trí như trình bày của chị N.

Về con chung: chị N, anh T có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Ánh N2, sinh ngày 31/7/2018. Hiện nay cháu N2 đang sinh sống cùng bà. Bà đồng ý nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N2 cho chị N cho đến khi chị N về nước sinh sống. Bà xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N2 là quyền cũng như nghĩa vụ của ông, bà đối với con cháu nên không yêu cầu chị N, anh T phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N2 từ trước cho đến nay.

Ngoài ra bà N1 trình bày: Do bận công việc nên bà đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án mở ra.

Cháu Vũ Nguyễn Ánh N2 trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng bà ngoại tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống được mẹ và bà chăm sóc cẩn thận chu đáo. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng mẹ và bà ngoại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Thị Phương N, bà Giáp Thị N1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh T, chị N, bà N1; biên bản lấy lời khai cháu N2 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Vũ văn T, bị đơn chị Nguyễn Thị Phương N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Giáp Thị N1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh T, chị N, bà N1 là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T.

Về hôn nhân: anh Vũ Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương N.

Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Ánh N2 cho chị Nguyễn Thị Phương N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu N2 cho bà Giáp Thị N1 nuôi dưỡng cho đến khi chị N về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Do anh T, chị N, bà N1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4

Anh Vũ Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu do chị N gửi từ nước ngoài đến Tòa án: Do bản tự khai, đơn đề nghị giám định, giấy ủy quyền của chị N gửi đến Tòa án không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tại nước ngoài.

Ngày 26/5/2025 Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định số 07/2025/QĐ-TCGĐ, trưng cầu giám định dấu vân tay của chị N trong bản tự khai, đơn đề nghị giám định, giấy ủy quyền gửi đến Tòa án.

Tại Kết luận giám định số 1133/KL-KTHS ngày 13/06/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B nêu:

Dấu vân tay màu đỏ bên phải ở cuối trang 1 và dấu vân tay mầu đỏ bên phải dưới các mục “Người làm tự khai”, “Bên A”, “Người làm đơn” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ phải” trên bản sao Chỉ bản số [...] mang tên Nguyễn Thị Phương N, sinh ngày 06/03/1994 (ký hiệu M) do Phòng C về TTXH - Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.

Dấu vân tay màu đỏ bên trái ở cuối trang 01 và dấu vân tay mầu đỏ bên trái dưới các mục “Người làm tự khai”, “Bên A”, “Người làm đơn” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ trái” trên bản sao Chỉ bản số [...] mang tên Nguyễn Thị Phương N, sinh ngày 06/03/1994 (ký hiệu M) do Phòng C về TTXH - Công an tỉnh B cung cấp là của cùng một người.

Từ kết luận trên, Hội đồng xét xử chấp nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu của chị N gửi đến Tòa án để giải quyết vụ án.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Vũ Văn T khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị Phương N và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về thẩm quyền giải quyết: Tại công văn số 1575/QLXNC ngày 16/06/2025 xác định chị Nguyễn Thị Phương N đã xuất cảnh ngày 03/01/2021, hiện chưa có thông tinh nhập cảnh. Anh T hiện đang lao động tại Đài Loan (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ). Do đó, anh T, chị N được xác định đang cư trú ở nước ngoài, ngoài ra anh T, chị N đều có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5

[4]. Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh T, bị đơn chị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T, chị N, bà N1.

[5]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị Phương N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống anh T xác định vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị N. Chị N cũng xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên đồng ý ly hôn anh T.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T, Hội đồng xét xử thấy: Tại bản tự khai anh T, chị N đều xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, đã sống ly thân nhau một thời gian dài. Anh T đề nghị được ly hôn chị N, chị N đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử thấy vợ chồng anh T, chị N đã có thời gian dài không quan tâm, liên lạc với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, xử cho anh T được ly hôn chị N là phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp quy định của pháp luật cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Anh T, chị N có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Ánh N2, sinh ngày 31/7/2018. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng bà N1 (là mẹ đẻ chị N). Ly hôn, anh T đề nghị giao con chung cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nhưng tạm giao cho bà N1 chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị N về nước sinh sống. Chị N cũng đề nghị giao con chung cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn. Bà N1 đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N2 cho chị N trong thời gian chị N đi lao động nước ngoài. Cháu N2 có nguyện vọng được ở cùng mẹ, bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn.

Xét yêu cầu của anh T đề nghị giao chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: Anh T, chị N đều đang lao động tại nước ngoài nên đều không đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, anh T, chị N đều đề nghị giao con chung cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn nhưng tạm giao cho bà N1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị N lao động tại nước ngoài. Bà N1 đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N2 cho chị N trong thời gian chị N lao động tại nước ngoài. Cháu N2 trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ và bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn. Trên thực tế cháu N2 vẫn đang sinh sống ổn định cùng bà N1 từ khi anh T, chị N đi lao động nước ngoài. Do đó, để tránh xáo trộn trong cuộc sống, học tập, đảm bảo sự phát triển tốt nhất của cháu N2, Hội đồng xét xử thấy căn cứ Điều 81, Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình. Giao cháu Vũ Nguyễn Ánh N2, sinh ngày 31/7/2018 cho chị N nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác sau khi ly hôn, nhưng tạm giao cháu N2 cho bà Giáp Thị N1 nuôi dưỡng cho đến khi chị N về nước sinh sống là phù hợp với thực tế, nguyện vọng của cháu N2, phù hợp quy định của pháp luật cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn anh Vũ Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trường hợp anh Vũ Văn T có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T, chị N, bà N1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do anh T, chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Anh Vũ Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về chi phí giám định: do các đương sự tự thanh toán với cơ quan giám định và không yêu cầu giải quyết trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về quyền kháng cáo:

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh T, chị N đang lao động tại nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T.

  1. Về hôn nhân: Anh Vũ Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương N.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Ánh N2, sinh ngày 31/7/2018 cho chị Nguyễn Thị Phương N nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu N2 cho bà Giáp Thị N1 nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị Phương N về nước sinh sống.
  3. Sau khi ly hôn anh Vũ Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

  4. Về án phí: Anh Vũ Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005709 ngày 29/04/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Vũ Văn T đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án:
  6. Anh Vũ Văn T, chị Nguyễn Thị Phương N có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

    Bà Giáp Thị N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- Cục THADS tỉnh Bắc Giang;

- UBND xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương;

- Công thông tin điện tử TAND;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 175/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa ah T và chị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger