Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2025/DS-PT

Ngày 25/6/2025

“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.

  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Lâm.

  • Ông Nguyễn Văn Dũ.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Quyên, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 5 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 180/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trịnh Minh Đ, sinh ngày 01/9/1969, địa chỉ: Số B, đường T, khóm A, phường E, TP ., tỉnh Sóc Trăng.

  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Danh Thành V, sinh năm 1981, địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

  • - Bị đơn: Bà Đỗ Thị Kim C, sinh năm 1972, địa chỉ: Số B, đường Q, khóm F, phường F, TP ., tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1975, địa chỉ: Số B, đường T, khóm A, phường E, TP ., tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

  • - Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị Kim C là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Do có quen biết từ trước nên vào ngày 04/7/2019, ông Trịnh Minh Đ có cho bà Đỗ Thị Kim C vay số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 02 năm. Việc thỏa thuận vay tiền thì bà C có làm giấy viết tay cố sổ đỏ cho ông Đ và có ông Sâm Quang V1 (là anh rể bà C) làm chứng cùng ký nhận. Để bảo đảm trả nợ cho khoản vay thì bà C có cầm cố cho ông Đ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số GCN: CH01240, có diện tích 77,6m2, thửa số 64, tờ bản đồ 44, tọa lạc khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 16/10/2013 do bà Đỗ Thị Kim C và Đỗ Thị Kim H đứng tên. Từ khi vay số tiền nêu trên thì bà Chi trả lãi cho ông Đ được 03 tháng, tương ứng số tiền 24.000.000 đồng và ngưng trả lãi cho đến nay. Ông Đ đã nhiều lần yêu cầu bà Chi trả tiền vốn, lãi vay nêu trên nhưng bà C cố tình hứa hẹn lần này đến lần khác và đến nay cũng chưa trả tiền vốn vay và tiền lãi cho ông Đ. Vì vậy, nay ông Trịnh Minh Đ khởi kiện bà Đỗ Thị Kim C, yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Đỗ Thị Kim Chi T cho ông Trịnh Minh Đ số tiền vốn vay là 200.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/10/2019 đến nay (ngày 20/3/2025) tính tròn là 65 tháng 15 ngày, lãi suất 04%/tháng, tương ứng số tiền lãi là 524.000.000 đồng. Tổng cộng tiền vốn và lãi là 724.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện về mức lãi suất: Yêu cầu bà Đỗ Thị Kim Chi T cho ông Trịnh Minh Đ tiền lãi tính từ ngày 04/7/2019 đến ngày 20/3/2025, tính tròn là 68 tháng 15 ngày, lãi suất 1,66%/tháng, tương ứng số tiền lãi là 227.420.000 đồng, nhưng trừ số tiền lãi 03 tháng bà C đã trả cho ông Đ 24.000.000 đồng, còn nợ lại tiền lãi là 203.420.000 đồng. Tổng cộng tiền vốn và lãi là 403.420.000 đồng. Ông Trịnh Minh Đ đồng ý trả lại cho bà Đỗ Thị Kim C 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số GCN: CH01240 có diện tích 77,6m2, thửa số 64, tờ bản đồ 44, tọa lạc khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 16/10/2013 do bà Đỗ Thị Kim C và Đỗ Thị Kim H đứng tên.

Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 06/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:

Vào ngày 04/7/2019, bà có vay và viết biên nhận vay số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) của ông Trịnh Minh Đ, lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 02 năm và bà đã trả lãi cho ông Đ được 03 tháng với số tiền 24.000.000 đồng, nhưng thực tế khi vay số tiền 200.000.000 đồng thì bà chỉ nhận được số tiền 125.000.000 đồng, vì ông Đ đã trừ vào số tiền 75.000.000 đồng mà bà còn nợ vay vốn và lãi của khoản vay cũ trước đó, có người làm chứng là anh rể của bà là ông Sâm Quang V2. Hiện nay hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, nên không có điều kiện trả nợ một lần cho ông Đ. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ đòi số tiền vốn và lãi nêu trên thì bà đồng ý trả số tiền vốn vay 200.000.000 đồng và tiền lãi cho ông Trịnh Minh Đ nêu trên theo phương án trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi xong khoản tiền vốn, lãi vay.

Bà có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ: yêu cầu ông Đ giao trả lại cho bà 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nêu trên của bà và bà H đứng tên.

Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 06/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đỗ Thị Kim H trình bày:

Bà thống nhất với nội dung trình bày nêu trên của bà Đỗ Thị Kim C, việc vay tiền của bà C với ông Đ không có liên quan đến bà. Vì vậy, bà có yêu cầu độc lập với ông Trịnh Minh Đ: Yêu cầu ông Đ giao trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nêu trên của bà và bà C đứng tên.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 21/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

“Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ đối với bị đơn bà Đỗ Thị Kim C.

  2. Buộc bị đơn bà Đỗ Thị Kim C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ số tiền vốn và lãi vay tổng cộng là 403.420.000 đồng (Bốn trăm lẽ ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Trong đó tiền vốn vay là 200.000.000 đồng và tiền lãi vay là 203.420.000 đồng.

    Kể từ ngày 21/3/2025, bị đơn bà Đỗ Thị Kim C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn vay chưa thanh toán theo mức lãi suất 20%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vốn vay cho nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ.

  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Thị Kim C, yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị Kim H đối với nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ, về việc đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Buộc ông Trịnh Minh Đ có nghĩa vụ giao trả cho bà Đỗ Thị Kim C, bà Đỗ Thị Kim H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số GCN: CH01240 có diện tích 77,6m2, thửa số 64, tờ bản đồ 44, tọa lạc khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 16/10/2013 do bà Đỗ Thị Kim C và Đỗ Thị Kim H đứng tên người sử dụng đất.”

Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 01/4/2025, bà Đỗ Thị Kim C gửi đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét: Hiện nay bà không có công việc ổn định nên không có khả năng trả nợ, cấp sơ thẩm buộc bà trả tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm là vượt quá khả năng của bà. Vì vậy, bà yêu cầu áp dụng mức lãi suất của Ngân hàng cho vay hiện nay là 7,9%/năm và giải quyết cho bà trả nợ hàng tháng cho ông Đ mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Kim C giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Trịnh Minh Đ khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị Kim Chi T số tiền vốn vay 200.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/7/2019 đến ngày 20/3/2025, tính tròn là 68 tháng 15 ngày, lãi suất 1,66%/tháng, tương ứng số tiền lãi là 227.420.000 đồng, khấu trừ số tiền lãi 03 tháng bà C đã trả 24.000.000 đồng, còn nợ lại tiền lãi là 203.420.000 đồng, tổng cộng tiền vốn và lãi là 403.420.000 đồng.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đỗ Thị Kim C thừa nhận có vay của ông Trịnh Minh Đ số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 04%/tháng và cố cho ông Đ giữ 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số GCN: CH01240, được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 16/10/2013 do bà Đỗ Thị Kim C và Đỗ Thị Kim H đứng tên. Đến nay, bà chưa trả tiền vốn vay 200.000.000 đồng cho ông Đ, chỉ trả tiền lãi được 03 tháng với số tiền 24.000.000 đồng, bà C đồng ý trả cho ông Đ số tiền vốn và tiền lãi còn nợ tổng số tiền 403.420.000 đồng (tiền vốn vay 200.000.000 đồng và tiền lãi 203.420.000 đồng) nhưng yêu cầu trả nợ theo phương thức mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

[3] Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Minh Đ, nay bà Đỗ Thị Kim C kháng cáo yêu cầu xem xét lại mức lãi suất tính lãi 20%/năm là quá cao vượt quá khả năng của bà, đồng thời yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cho bà trả nợ dần mỗi tháng 2.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, giao dịch vay tiền giữa ông Đ và bà C thoả thuận mức lãi suất là 4%/tháng là vượt quá hạn mức pháp luật cho phép, nay ông Đ yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất theo quy định của pháp luật là 1,66%/tháng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

[4] Việc bà C kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cho bà trả nợ dần cho ông Đ mỗi tháng 2.000.000 đồng, tuy nhiên phía ông Đ không đồng ý. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ trả nợ của bên vay là phải trả đủ tiền khi đến hạn “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”. Do vậy, kháng cáo của bà C về nội dung này không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà C, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Các nội dung khác trong quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đỗ Thị Kim C phải chịu án phí với số tiền 300.000 đồng, do nội dung kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Kim C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 21/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, đã tuyên xử:

    “1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ đối với bị đơn bà Đỗ Thị Kim C.

    2. Buộc bị đơn bà Đỗ Thị Kim C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ số tiền vốn và lãi vay tổng cộng là 403.420.000 đồng (Bốn trăm lẽ ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Trong đó tiền vốn vay là 200.000.000 đồng và tiền lãi vay là 203.420.000 đồng.

    Kể từ ngày 21/3/2025, bị đơn bà Đỗ Thị Kim C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn vay chưa thanh toán theo mức lãi suất 20%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vốn vay cho nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ.

    3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Thị Kim C, yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị Kim H đối với nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ, về việc đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Buộc ông Trịnh Minh Đ có nghĩa vụ giao trả cho bà Đỗ Thị Kim C, bà Đỗ Thị Kim H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số GCN: CH01240 có diện tích 77,6m2, thửa số 64, tờ bản đồ 44, tọa lạc khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 16/10/2013 do bà Đỗ Thị Kim C và Đỗ Thị Kim H đứng tên người sử dụng đất.

    4. Về án phí sơ thẩm:

    4.1. Nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền là 300.000 đồng, nhưng trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 15.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0008558 ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Còn lại số tiền 15.300.000 đồng ông Trịnh Minh Đ được hoàn trả lại theo quy định của pháp luật.

    4.2. Buộc bị đơn bà Đỗ Thị Kim C có nghĩa vụ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 20.136.800 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0008792 ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, còn lại số tiền án phí 19.836.800 đồng bà Đỗ Thị Kim C có nghĩa vụ tiếp tục nộp theo quy định của pháp luật.

    4.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Kim H được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0008791 ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.”

  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đỗ Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000196 ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TA tỉnh;

  • - TAND TP Sóc Trăng;

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;

  • - VKSND TP Sóc Trăng;

  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Nhuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 175/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger