Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2025/DS-PT

Ngày: 20/3/2025

V/v Tranh chấp chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Chu Tuấn Anh

Các thẩm phán:

Ông Trương Chí Anh

Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 533/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024 về việc "Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 143/2025/QĐ-PT ngày 06/3/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số A phố P, thị trấn P, huyện Đ, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số B V, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Quang T – Giám đốc Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số nhà F ngõ D, tổ T, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Thu N, sinh năm 1964; Địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số B V, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N: Luật sư Nguyễn Quang T – Giám đốc Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Người kháng cáo: Bà Phạm Thị M là nguyên đơn và bà Phạm Thị Thu N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị M trình bày: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N và bà Phạm Thị L là chủ sử dụng chung thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020.

Cuối tháng 11 năm 2021, Phạm Thị L tự ý chặt phá cây cối, tường bao, tiến hành xây dựng công trình trên tài sản chung khi chưa có sự đồng ý của bà M và bà N. Bà M đã có đơn đề nghị khẩn cấp gửi UBND xã H để yêu cầu, buộc bà Phạm Thị L tạm dừng hành vi xây dựng công trình. UBND xã H lập Biên bản ghi nhận sự việc và yêu cầu bà Phạm Thị L phải tạm dừng, không được tiếp tục xây dựng các công trình trên thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22. Nhưng bà Phạm Thị L đã không chấp hành theo yêu cầu của UBND xã H, cố tình tiếp tục xây dựng công trình trên đất.

Vì vậy, ngày 30/11/2021, bà M có đơn đề nghị khẩn cấp lần 2 để yêu cầu UBND xã H ban hành Quyết định tạm đình chỉ thi công, tạm dừng tất cả các hoạt động xây dựng công trình của bà Phạm Thị L; Thực hiện cưỡng chế, buộc bà Phạm Thị L phá dỡ công trình xây dựng, trả lại nguyên trạng thửa đất. Ngày 30/11/2021, UBND xã H đã ban hành Thông báo số 576/TB-UBND về việc dừng thi công xây dựng công trình đối với bà Phạm Thị L. Với nội dung: Yêu cầu bà Phạm Thị L tạm dừng xây dựng đến khi vụ việc được giải quyết; Đồng thời giao trách nhiệm cho các cơ quan ban ngành giám sát, ngăn chặn việc xây dựng của bà Phạm Thị L.

Tuy nhiên, bất chấp các quy định pháp luật, bất chấp yêu cầu của UBND bà L tiếp tục cho người đến xây dựng công trình trên thửa đất đang tranh chấp. Hiện nay, công trình đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng, gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng chung của bà M và bà Phạm Thị Thu N.

Trước đây khi chị em còn đoàn kết thì bà và bà N có thống nhất là sẽ chia cho bà L được 35m² quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung của 3 người, nhưng sau đó chị em không đoàn kết nên bà không đồng ý chia cho bà L 35m² đất như trước đây. Hiện nay, bà M, bà N và bà Phạm Thị L không thể thỏa thuận được với nhau về quyền sử dụng đất của từng người. Vì vậy, bà M khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đan Phương giải quyết các yêu cầu:

  • - Yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L.
  • - Giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22 cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N. Bà M và bà N sẽ trả tiền giá trị đất cho bà Phạm Thị L theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Phạm Thị L trình bày:

Năm 2020 ba chị em bà gồm có bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị M và Bà Phạm Thị Thu N được mẹ cho 01 thửa đất là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020. Sau khi được cho đất đến năm 2021 bà có xây dựng 01 nhà cấp 4 để ở và bán hàng. Khi bà làm nhà thì bà M và bà N không đồng ý cho làm nhà trên đất, nhưng vì đất là của chung nên bà có quyền được sử dụng, bà có đề nghị UNBD xã H xác định vị trí đất của 3 chị em để bà làm nhà trên phần đất của bà, nhưng bà M và bà N không đồng ý nên không xác định được vị trí đất của từng người. Do hoàn cảnh của bà hiện tại không có nhà ở nên bà vẫn làm để lấy chỗ ở. Năm 2021 bà M và bà N đã đồng ý phân chia cho bà 35m² quyền sử dụng đất, phần còn lại là của bà M và bà N, việc phân chia đã được lập thành Vi bằng số 2299/2021/VB-TPLBĐ ngày 27/4/2021 của Văn phòng T3; Vì vậy, theo vi bằng đã lập thì bà đã xây dựng quán trên diện tích 35m² là phần đất bà được hưởng.

Bà M và bà N yêu cầu phân chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L theo hướng giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22 cho bà M và bà N, còn bà sẽ nhận bằng tiền bà không đồng ý.

Bà L đề nghị Tòa án chia theo hiện vật, bà sẽ được hưởng bằng quyền sử dụng đất, tại vị trí ngôi nhà cấp 4 tôi đã xây là 35m², diện tích này đúng bằng diện tích tại vi bằng bà M và bà N đã cho bà. Phần còn lại là của bà M và bà N. Hoặc nếu bà M, bà N muốn lấy đất thì phải thanh toán cho bà bằng tiền là 80.000.000đồng x 35m² và tiền nhà cấp 4 bà xây là 200.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thu N trình bày:

Bà Nguyệt nhất trí về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đúng như nguyên đơn đã trình bày. Bà Nguyệt đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L, giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22 cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N. Bà M và bà N sẽ trả tiền giá trị đất cho bà Phạm Thị L theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã quyết định:

Căn cứ các Điều 207; 208; 209; 210; 217; 218; 219 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 cấp cho bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N, bà Phạm Thị L .
  2. Phân chia bằng hiện vật:
    • 2.1. Bà Phạm Thị L được quyền sử dụng 40m² đất của thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, trên đất có một ngôi nhà cấp 4 do bà L xây dựng. Được giới hạn bởi các điểm 1;2;3;10;9;8;1; có ký hiệu A1.
    • 2.2. Bà Phạm Thị M và Phạm Thị Thu N được quyền sử dụng đối với 51,4m² đất của thửa đất số thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Và các cây cối trên phần đất được giao. Được giới hạn bởi các điểm 7;6;5;4;3;10;9;8;7; có ký hiệu A2.

    Có sơ đồ kèm theo.

  3. Bà Phạm Thị L có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị chênh lệch tài sản cho bà Phạm Thị M số tiền 125.000.000 đồng (một trăm hai mươi năm triệu đồng) và cho bà Phạm Thị Thu N số tiền 125.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

    Bà Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N và bà Phạm Thị L có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký, kê khai; đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất, tài sản gắn liền với đất được công nhận theo quy định pháp luật.

  4. Án phí: Bà Phạm Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Phạm Thị L phải chịu 66.729.000 đồng (sáu mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Phạm Thị Thu N phải chịu 53.550.000 đồng (Năm mươi ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

  • - Phân chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m²; địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L. Đề nghị chia đều theo quy định của pháp luật.
  • - Giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m²; địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N. Bà M và bà N sẽ trả tiền giá trị quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị L theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp phúc thẩm:

- Tại bản tự khai ngày 21/02/2025, bà Phạm Thị L trình bày: Tôi đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm số 27/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng. Nguồn gốc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m²; địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội trước đây là của mẹ tôi là bà Nguyễn Thị T1 đã tặng cho chị em tôi là Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N và Phạm Thị L năm 2020 (hợp đồng tặng cho có công chứng). Khi cho thì mẹ tôi cho chung ba chị em tôi chứ không nói rõ phần của ai ở đâu và bao nhiêu m2. Theo Vi bằng lập vào tháng 4/2021, tôi và chị M và chị N đã thống nhất chia cho tôi 35m2 nhưng không nói rõ ở vị trí nào. Sau này tôi đề nghị chị M và chị N xác định vị trí cho tôi xây quán thì chị M và chị N không đồng ý xác định vị trí và cũng không đồng ý cho tôi xây để sử dụng. Đến tháng 11 năm 2021, tôi định xây nhà tạm để bán hàng thì chị M và chị N không đồng ý và có giấy của Ủy ban xã H tạm đình chỉ việc xây dựng. Sau này, tôi cũng đã xây xong nhà tạm vào tháng 12/2021 như Tòa án cấp sơ thẩm đã định giá nhà, đất. Tôi không yêu cầu định giá lại nhà, đất.

- Tại Biên bản ghi lời khai ngày 21/02/2025, bà Phạm Thị L trình bày:

Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án về việc tranh chấp chia tài sản chung do nguyên đơn là bà Phạm Thị M đối với bị đơn Phạm Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Thu N. Sau khi xét xử, bà M, bà N kháng cáo. Quan điểm của tôi đối với kháng cáo của bà M, bà N như sau:

Tôi đề nghị Tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm số 27/2024/DSST ngày 27/9/2024 của TAND huyện Đan Phượng về việc phân chia đất cho các chị em tôi. Tôi không đề nghị định giá lại nhà đất tranh chấp tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 104, tờ bản đồ số 20, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 815330, nơi cấp: Sở tài nguyên và môi trường thành phố H, ngày cấp: 21/12/2020, địa chỉ thửa đất: số nhà F, tổ Dân phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, và hiện nay tôi đang sinh sống, cư trú cùng với chồng là Nguyễn Tuấn N1 sinh năm 1960 và con trai là Nguyễn Hồng P sinh năm 2001 tại nhà đất này-hiện trạng xây 4 tầng. Nhà đất này do chồng tôi tặng cho tôi theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 23/12/2020 tại Văn phòng C.

Hiện nay tôi đang bán hàng quần áo tại địa chỉ Cụm F, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội (diện tích nhà đất đang tranh chấp).

- Tại bản trình bày ngày 26/2/2025, bản trình bày ngày 19/3/2025: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N thống nhất yêu cầu tòa án giải quyết:

  • - Phân chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Bà Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L. Đề nghị chia đều theo quy định của pháp luật.
  • - Giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m²; địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N. Bà M và bà N sẽ trả tiền giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất cho bà Phạm Thị L theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn là bà Phạm Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người kháng cáo là bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị:

  • - Yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L. Đề nghị chia đều theo quy định của pháp luật.
  • - Giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N. Bà M và bà N sẽ trả tiền giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất cho bà Phạm Thị L theo quy định của pháp luật. Bà M và bà N mỗi người phải thanh toán ½ (một phần hai) giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất cho bà L.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M, bà N là luật sư Nguyễn Quang T nhất trí với kháng cáo của bà M, bà N và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà M, bà N.

- Bà Phạm Thị L trình bày: Tôi đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm số 27/2024/DSST ngày 27/9/2024 của TAND huyện Đan Phượng về việc phân chia đất cho các chị em tôi. Tôi có tiền để thanh toán cho bà M, bà N.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về giải quyết nội dung vụ án: Sau khi phân tích đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N và sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội theo hướng: Giao toàn bộ quyền sử dụng đất thửa số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N cùng toàn bộ nhà cấp 4, cây cối trên đất. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M và bà N thanh toán giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất cho bà Phạm Thị L. Miễn án phí cho bà M, bà N. Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

[1]. Về thủ tục: Nguyên đơn bà Phạm Thị M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thu N kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận về hình thức.

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về tố tụng: Xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị M khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất tại địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Đây là quan hệ pháp luật dân sự “Tranh chấp về chia tài sản chung là quyền sử dụng đất”. Tranh chấp giữa các bên đã được hòa giải tại Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ theo đúng quy định của Luật đất đai. Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng thụ lý giải quyết vụ án sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

*Về nội dung tranh chấp: Theo lời khai thống nhất của tất cả các đương sự và theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử phúc thẩm đủ cơ sở xác định: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 đứng tên bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N, bà Phạm Thị L là tài sản chung của bà M, bà N và bà L - các bà là chị em ruột trong gia đình. Nguồn gốc tài sản này là do bà Nguyễn Thị Thuận T2 cho bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị Thu N theo Hợp đồng tặng cho một phần quyền sử dụng đất ngày 06/11/2020 tại Văn phòng C. Tại mục 3 Điều 1 của Hợp đồng tặng cho nêu rõ: “Sau khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên tại khoản 2 điều này thì bên B (gồm bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N và bà Phạm Thị L) trở thành đồng chủ sử dụng diện tích đất nêu tại khoản 2 nêu trên. Trong đó bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N và bà Phạm Thị L mỗi người có 1/3 (một phần ba) quyền sử dụng đất; có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với diện tích đất nêu tại khoản 2 điều này. Bên B cùng nhau thỏa thuận xin cấp chung 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất”

Theo Vi bằng số 2299/2021/VB-TPLBĐ ngày 27/4/2021 của Văn phòng T3 ngày 27/4/2021: Bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N đã đồng ý để bà Phạm Thị L sử dụng diện tích 35m² trong tổng số diện tích đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Diện tích đất còn lại 56,4m2 thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N. Đồng thời khi đủ điều kiện tách thửa cho bà L thì bà M và bà N phối hợp, hỗ trợ cho bà L các thủ tục và ký kết các giấy tờ tại cơ quan có thẩm quyền.

Tuy nhiên tại Vi bằng nêu trên các bà M, L, N chưa thỏa thuận về vị trí đất của 35m2 bà L được hưởng trong tổng diện tích đất 91,4m2 thuộc sử dụng chung của 03 bà. Theo “Bản trình bày ngày 26/02/2025” của bà M và bà N thì bà M và bà N đều thống nhất trình bày: Do bà L, bà N quản lý, sử dụng diện tích lớn hơn tôi và bà N, nên phần diện tích đất 35m2 bà L quản lý sử dụng theo thỏa thuận phải là phần đất phía sau, không phải là mặt đường.

Như vậy, trên thực tế ý chí thỏa thuận của các bà M, L, N là chưa thống nhất được việc phân chia đất trên theo hiện vật cũng như vị trí đất cụ thể phân chia. Bà L cũng chưa thực hiện được việc tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Vi bằng về việc phân chia đất không phải là loại giấy tờ được ghi nhận để làm cơ sở cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền. Do vậy, giữa các bà đã phát sinh tranh chấp và bà M khởi kiện vụ án dân sự đến Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.

Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đủ cơ sở xác định bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N và bà Phạm Thị L mỗi người được hưởng 1/3 (một phần ba) quyền sử dụng đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 cấp cho bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N, bà Phạm Thị L; Bà M, bà L, bà N đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với diện tích đất được sử dụng chung.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 03 tháng 7 năm 2024 thì: Giá trị quyền sử dụng đất 91,4m2 x 50.000.000 đồng/m2 = 4.570.000.000 đồng. Phân chia theo giá trị thì: Bà M, bà L, bà N mỗi người được hưởng 1/3 (tương đương 30,47m2) có giá trị là: 1.523.500.000 đồng.

Phân chia theo hiện vật: Trong vụ án này, các bà M, L, N đều đã có nơi ở ổn định. Bà L hiện ở tại nhà số nhà F, tổ Dân phố Đ, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội cùng chồng và các con, nhà xây bốn tầng (Theo bà L khai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà L). Mặt khác, hiện trạng thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho thấy việc chia thửa đất ra ba phần hoặc hai phần sẽ đều không đảm bảo quy định về diện tích, về chiều rộng, chiều sâu của thửa đất khi tách thửa theo Quyết định số 61/2024/QĐ-UBND ngày 27/9/2024 của UBND Thành phố H và theo Điều 220 Luật Đất Đai năm 2024. Việc phân chia đất theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng là chưa phù hợp thực tế sử dụng đất của các đương sự, chưa phù hợp với hiện trạng thửa đất (Thửa đất hình tứ giác, chỉ có mặt tiền giáp đường đi có kích thước 7,69m; mặt hậu có kích thước 3,7m; các mặt còn lại giáp đất của chủ sử dụng khác).

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà L trình bày vì hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên không thể thanh toán tiền cho bà M, bà N. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bà L lại trình bày có tiền thanh toán cho bà M, bà N.

Phần diện tích đất của bà M và bà N là 2/3 tổng diện tích thửa đất tranh chấp. Bà M và bà N có nguyện vọng được chia chung quyền sử dụng đất và giao toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N được quyền sử dụng chung. Bà M và bà N sẽ trả tiền giá trị đất cho bà Phạm Thị L: 1.523.500.000 đồng. Do vậy, việc giao toàn bộ thửa đất cho bà M, bà N sử dụng chung sẽ phù hợp hơn so với việc phân chia đất như bản án sơ thẩm đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật, với hiện trạng thửa đất và phù hợp với thực tế sử dụng đất của các đương sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giao toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N được quyền sử dụng chung. Bà M và bà N có nghĩa vụ thanh toán trả tiền giá trị đất cho bà Phạm Thị L: 1.523.500.000 đồng.

Về tài sản trên đất, bà Phạm Thị L tự ý xây dựng nhà tạm cấp 4 trên đất khi chưa có sự đồng ý của bà Phạm Thị M và bà Phạm Thị Thu N là không đúng. Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ đã có Thông báo số 576/TB-UBND ngày 30/11/2021 về việc dừng thi công xây dựng công trình đối với bà Phạm Thị L.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết tại Tòa án cấp phúc thẩm, tại đơn trình bày của bà M và bà N ngày 19/3/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm, bà M và bà N và đại diện ủy quyền của hai bà là ông K trình bày: bà M và bà N tự nguyện thanh toán cho bà L giá trị tài sản trên đất gồm: giá trị xây dựng nhà cấp 4: 74.312.000 đồng + giá trị 10 cây chuối: 210.000 đồng = 74.522.000 đồng. Việc bà M và bà N tự nguyện thanh toán cho bà L 74.522.000 đồng được hội đồng xét xử ghi nhận.

Như vậy, tổng số tiền bà M, bà N có nghĩa vụ thanh toán trả cho bà L là: 1.523.500.000 đồng + 74.522.000 đồng = 1.598.022.000 đồng. Trong đó: Bà M, bà N mỗi bà có nghĩa vụ thanh toán trả bà L: 799.011.000 đồng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N và sửa bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng như đã phân tích trên.

[3]. Về án phí: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm, miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bà Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 36.000.000 đồng + (1.523.500.000 đồng – 800.000.000 đồng) x 3% = 57.705.000 đồng

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các khoản 2, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 148, Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 207, 208, 219, 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 220 Luật đất đai năm 2024.
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thi miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị M về việc chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 đứng tên bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N, bà Phạm Thị L, có giá trị: 4.570.000.000 đồng. Phân chia bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N, bà Phạm Thị L mỗi người được hưởng: 30,47 m2, có giá trị: 1.523.500.000 đồng (một tỷ, năm trăm hai mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng).
  2. Chia bằng hiện vật và thanh toán giá trị như sau:
    • Giao cho bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N được quyền sử dụng đất chung toàn bộ thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m², địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
    • Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N được sở hữu chung giá trị xây dựng nhà cấp 4 và 10 cây chuối trên đất có giá trị là: 74.522.000 đồng (bẩy mươi bốn triệu, năm trăm hai mươi hai nghìn đồng).
    • Bà Phạm Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị L số tiền: 799.011.000 đồng (bẩy trăm chín mươi chín triệu, không trăm mười một nghìn đồng).
    • Bà Phạm Thị Thu N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị L số tiền: 799.011.000 đồng (bẩy trăm chín mươi chín triệu, không trăm mười một nghìn đồng).
    • Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N theo quyết định bản án và theo quy định của pháp luật.
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
  3. Về án phí: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Thu N được miễn án phí dân sự sơ thẩm, miễn án phí dân sự phúc thẩm.

    Bà Phạm Thị L phải chịu 57.700.000 đồng (năm mươi bẩy triệu, bẩy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Đan Phượng;
  • - Chi cục THADS huyện Đan Phượng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia tài sản chung

  • Số bản án: 175/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 22; diện tích: 91,4 m2, địa chỉ: Cụm F, xã H, huyện Đ, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số DA 012039 do UBND huyện Đ cấp ngày 08/12/2020 mang tên Phạm Thị M, Phạm Thị Thu N, Phạm Thị L.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger