Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HSST

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Luyện
Ông Lê Ngọc Lâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Huy Khang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2024/HSST, ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị Thanh T; Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1992 tại Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Anh N; Sinh năm: 1956; Họ tên mẹ: Võ Thị Kim A; Sinh năm: 1959; Hoàn cảnh gia đình: Không có chồng, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm tạm giam từ ngày 09/04/2024 (có mặt).
  2. Võ Thành Đ; Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số B đường Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Nhà số F đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Võ Văn L (chết); Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Thanh H; Sinh năm: 1970; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Hoàng Ngọc Minh C (chữ đăng ký kết hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam từ ngày 09/04/2024 (có mặt).
  3. Nguyễn Thúy A1; Nam/nữ: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 11 năm 2004 tại Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi

1

đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Hoàng V; Họ tên mẹ: Lê Mộng N1; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng là Nguyễn Văn N2; có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam từ ngày 09/04/2024 (có mặt).

- Những người tham gia tố tụng

NHẬN THẤY

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/4/2024, Nguyễn Thị Thanh T thuê phòng 501, khách sạn S, địa chỉ số C đường P, Phường A, quận G để ở và để sử dụng ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 09/4/2024, T được Q (quen biết ngoài xã hội, không rõ lai lịch) cho 01 gói nylon chứa ma túy đá và 01 vỏ gói Ferrari màu đỏ vàng đã sử dụng hết (do T tò mò nên xin), sau đó TĐ đến phòng 501, khách sạn S để sử dụng ma túy, Đ mang theo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là bình hút gắn nỏ thủy tinh để cùng sử dụng ma túy với T. Tại phòng 501, khách sạn S, T bỏ ma túy đá vào trong nỏ thủy tinh và đốt lên để cùng sử dụng với Đ. Lúc này, Nguyễn Thúy A1 hoạt động mua bán ma túy từ tháng 11/2023, nguồn ma túy A1 mua của nhiều người khác nhau (không rõ lai lịch) sau đó bán lại cho người khác để hưởng tiền chênh lệch. A1Võ Thành Đ quen biết nhau ngoài xã hội được khoảng 01 tháng trước ngày bị bắt. Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 09/4/2024, có khách sử dụng zalo “Lailai” nhắn tin cho A1 qua zalo “Ngọc H1” hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, thêm tiền giao ma túy, tổng cộng là 600.000 đồng. A1 sử dụng zalo “nta” liên hệ zalo của Đ là “Dat Jr” để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Đ đang ở chung với Nguyễn Thị Thanh T tại phòng 501, khách sạn S, Đ hỏi xin T 01 gói ma túy đá để đưa cho A1 nhưng không nói cho T biết Đ bán ma túy cho A1. Đ hẹn A1 đến dưới khách sạn S để giao ma túy nhưng chưa lấy tiền, thỏa thuận khi khách trả tiền cho A1 thì A1 mới đưa tiền cho Đ. Khoảng 18 giờ 20 ngày 09/4/2024, A1 đang trên đường đi giao ma túy cho khách, khi đến trước nhà số E đường P, Phường A, quận B thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể, A1 khai nhận là ma túy đá mang đi bán cho cho khách với giá 600.000 đồng. A1 khai số ma túy trên mua của Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B tiến hành truy xét Đ. Qua truy xét, lúc 21 giờ ngày 09/4/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B phối hợp Công an P, quận G kiểm tra phòng 501, khách sạn S, địa chỉ số C đường P, Phường A, quận G, thời điểm kiểm tra có mặt Võ Thành Đ, Nguyễn Thị Thanh T. Kết quả kiểm tra, phát hiện thu giữ:

  • - Trên bàn gỗ có 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh để hút ma túy, bên trong nỏ còn tinh thể màu nâu; 02 bật lửa.
  • - Trên giường có 01 gói nylon chứa chất bột màu cam.
  • - Trên ghế gỗ có 01 gói nylon ghi chữ “Ferrari” dính chất bột, chất lỏng màu cam; 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu cam.

Kết luận giám định số 4542/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

2

  • Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thúy A1 và hình dấu Công an P1, quận B (thu giữ của A1), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1419g (không phẩy một bốn một chín gam), loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu nâu trong 01 ống thủy tinh được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thành Đ và hình dấu Công an P, quận G (thu giữ trên bàn gỗ), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0573g (không phẩy không năm bảy ba gam), loại Methamphetamine.
  • Bột màu cam trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thành Đ và hình dấu Công an P, quận G (thu giữ trên giường), qua giám định không tìm thấy ma túy, có khối lượng 32,3224g.
  • Bột màu cam trong 01 gói nylon ghi chữ “Ferrari” được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thành Đ và hình dấu Công an P, quận G (thu giữ trên ghế gỗ), là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, N3, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít.
  • Chất lỏng màu cam trong 01 chai nhựa được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thành Đ và hình dấu Công an P, quận G (thu giữ trên ghế gỗ), qua giám định không tìm thấy ma túy, thể tích 100ml.

Thu giữ, xử lý vật chứng:

  • 01 gói nylon chứa tinh thể. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1419g, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể có khối lượng 0,0715g.
  • 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu nâu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0573g Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể có khối lượng 0,0122g.
  • 01 gói nylon chứa chất bột màu cam. Kết quả giám định có khối lượng 32,3224g, không tìm thấy ma túy. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột có khối lượng 30,9804g. T khai đây là thuốc hạ sốt
  • 01 gói nylon ghi chữ “Ferrari” dính chất bột, chất lỏng màu cam. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, loại Ketamine, N3. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Đã sử dụng hết.
  • 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu cam. Kết quả giám định có thể tích 100,0ml, không tìm thấy ma túy. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Phần còn lại của chất lỏng. T khai đây là chai nước pha từ thuốc hạ sốt.
  • 01 túi da, A1 dùng để cất giấu ma túy
  • 01 bình nhựa, 01 ống hút, 02 bật lửa, là dụng cụ sử dụng ma túy của Đ
  • 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh đen của T, gắn sim số 0932222767;
  • 01 điện thoại di động hiệu S1 Note8 của Đ ;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của A1;

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKSBT ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thúy A1 về tội

3

“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ phẩm, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện Kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo Nguyễn Thúy A1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Thanh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội theo quy định. Bị cáo Võ Thành Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, và từ 03 đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội theo quy định. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận, các bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để tuyên các bị cáo mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thúy A1 khai nhận: Bị cáo mua bán ma túy từ lâu, nguồn ma túy bị cáo mua của nhiều người ngoài xã hội. Bị cáo quen biết Võ Thành Đ và biết Đ có ma túy bán nên vào ngày 09/4/2024 khi có khách hỏi mua thì bị cáo nhắn tin cho Đ để mua của Đ 300.000 đồng ma túy. Đ đưa cho bị cáo 1 gói ma túy chưa lấy tiền tại khách sạn S và thỏa thuận khi nào bán xong ma túy thì mới trả tiền. Sau khi nhận ma túy, bị cáo đem đi bán cho người mua thì bị công an bắt cùng tang vật.

4

Bị cáo Võ Thành Đ khai nhận: Sau khi A1 hỏi mua ma túy, bị cáo hỏi xin Nguyễn Thị Thanh T 01 gói ma túy đá khi cả hai đang trong phòng khách sạn cùng sử dụng ma túy. Sau khi nhận ma túy từ T, bị cáo đã đưa cho A1 và thỏa thuận khi nào lấy tiền từ khách thì A1 trả tiền cho Đ.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T khai nhận: Khi bị cáo cùng Đ sử dụng chung ma túy tại phòng khách sạn thì Đ xin bị cáo 1 gói ma túy đá, không nói để sử dụng vào việc gì. Gói ma túy bị cáo cho Đ là ma túy bị cáo cất giữ để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai của các bị cáo, bản tự khai, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tài sản, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Các bị cáo ĐT đã cùng nhau thực hiện hành tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng khách sạn. Bị cáo T tàng trữ 1 gói ma túy đá có trọng lượng 0,1419g là M để sử dụng. Bị cáo Đ hỏi xin bị cáo T 01 gói ma túy đá nói trên để bán cho bị cáo A1. Bị cáo A1Đ thỏa thuận khi nào A1 thu tiền của người mua thì mới trả cho Đ 300.000 đồng. Bị cáo A1 thừa nhận bản thân đã nhiều lần bán ma túy và lần này mua của Đ 1 gói ma túy giá 300.000 đồng để bán lại cho khách mua giá 600.000 đồng.

Kết luận giám định số 4542/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

  • Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thúy A1 và hình dấu Công an P1, quận B (thu giữ của A1), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1419g (không phẩy một bốn một chín gam), loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu nâu trong 01 ống thủy tinh được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thành Đ và hình dấu Công an P, quận G (thu giữ trên bàn gỗ), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0573g (không phẩy không năm bảy ba gam), loại Methamphetamine.
  • Bột màu cam trong 01 gói nylon ghi chữ “Ferrari” được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thành Đ và hình dấu Công an P, quận G (thu giữ trên ghế gỗ), là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, N3, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít.

Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Thành ĐNguyễn Thúy A1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Võ Thành ĐNguyễn Thị Thanh T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại các Điều 249, 251 và 255 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước; là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ các chất ma túy mà các bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng là chất hướng thần, kích thích, gây ảo giác và có tính độc hại cao. Người đã sử dụng và lệ thuộc vào ma túy thì ngoài

5

việc tổn hại đến sức khỏe, kinh tế của bản thân và gia đình còn có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Gây mất trật tự an ninh xã hội; gây lo lắng trong quần chúng nhân dân, đây cũng là nguồn gốc làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung, tùy theo vai trò, mức độ hành vi tham gia của từng bị cáo.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; tỏ ra ăn năn, hối cải; nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Bị cáo Nguyễn Thúy A1 thực hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo A1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt tại điểm n khoản 1 Điều 51, để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt, tùy theo nhân thân mỗi bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • 01 gói nylon chứa tinh thể. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1419g, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể có khối lượng 0,0715g. 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu nâu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0573g Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể có khối lượng 0,0122g. 01 gói nylon chứa chất bột màu cam. Kết quả giám định có khối lượng 32,3224g, không tìm thấy ma túy. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột có khối lượng 30,9804g. T khai đây là thuốc hạ sốt. 01 gói nylon ghi chữ “Ferrari” dính chất bột, chất lỏng màu cam. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, loại Ketamine, N3. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Đã sử dụng hết. 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu cam. Kết quả giám định có thể tích 100,0ml, không tìm thấy ma túy. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Phần còn lại của chất lỏng. T khai đây là chai nước pha từ thuốc hạ sốt. 01 túi da, A1 dùng để cất giấu ma túy. 01 bình nhựa, 01 ống hút, 02 bật lửa, là dụng cụ sử dụng ma túy của Đ. Đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh đen của bị cáo T; 01 điện thoại di động hiệu S1 Note8 của bị cáo Đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng của bị cáo A1. Đây là tài sản các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh của A1 không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”

6

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thúy A1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Võ Thành Đ.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T.
  • Áp dụng điểm khoản 1 Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thúy A1.

+ Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thúy A1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng; thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) thángtù; thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

  1. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1419g, loại Methamphetamine. 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu nâu, 01 gói nylon chứa chất bột màu cam, 01 gói nylon ghi chữ “Ferrari”; 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu cam; 01 túi da; 01 bình nhựa; 01 ống hút; 02 bật lửa.
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh đen, 01 điện thoại di động hiệu S1 Note8, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thúy A1: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh.

Theo biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 10 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

7

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND.TPHCM;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Công an Q. Bình Thạnh;
  • - THA Dân sự Q. Bình Thạnh;
  • - PV 06 Công an TP. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Hoan

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm (tội phạm về ma túy)

  • Số bản án: 175/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự sơ thẩm (Tội phạm về ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh T, A1, Đ k1 249, 251, 255
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger