TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2024/HSST Ngày: 13/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Kim Hoa
Bà Nông Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tùy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị X; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1978 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Dương Lam Đ (đã chết); Con bà: Ngọc Thị T (đã chết); Chồng: Đoàn Trọng L - sinh năm 1975 (Trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Con: có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2002, con thứ hai sinh năm 2010; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 13/01/2020 bị Phòng C1 Công an tỉnh C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “bán bảng đề cho việc đánh lô, đề” phạt tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 23/7/2024 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lục Văn H – sinh năm 1962; Trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1961; Trú tại: Tổ I, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Đàm Văn C – sinh năm 1976; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Nông Sỹ H2 - sinh năm 1962; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 58 phút ngày 20/7/2024, tổ công tác thuộc Đ1 Công an thành phố C phát hiện và bắt quả tang Dương Thị X (sinh năm 1978; trú tại tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái pháp luật tại nhà riêng. Thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng, số Imei: 357374094155734, được gắn Sim số thuê bao 0944.837.721 trên tay của Dương Thị X đang cầm, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ NOKIA, bàn phím bấm, màu đen, số Imei: 354176107845562, được lắp sim số thuê bao 0379.367.935, được phát hiện trên giường trong phòng ngủ của Dương Thị X; 01 (một) tờ giấy A4, có tiêu đề “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG LÔ TÔ THÀNH PHỐ”, trên giấy có ghi chữ và số được phát hiện và thu giữ trên giường trong phòng ngủ (cạnh vị trí Dương Thị X đang ngồi khi bị bắt quả tang). Xanh khai nhận tờ giấy trên là bảng tổng hợp số lô, số đề của X đã bán cho khách trong ngày 20/7/2024; 01 (một) Hợp đồng Đại lý xổ số kiến thiết số 82/HĐĐLTP-XSKT ngày 01 tháng 01 năm 2024 của Công ty TNHH MTV X1 được phát hiện và thu giữ trên giường trong phòng ngủ của Dương Thị X; Số tiền 14.025.000 đồng (mười bốn triệu không trăm hai mươi lăm nghìn).
Quá trình điều tra xác định: Dương Thị X làm đại lý cho Công ty TNHH MTV X1 từ khoảng năm 2017 đến nay và ghi vé xổ số cho khách tại vỉa hè đối diện Q tại đoạn đường tránh quốc lộ C thuộc phường Đ, thành phố C. Khoảng giữa tháng 6/2024, khi X đang ghi vé xổ số Nhà nước thì có một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (không rõ tên, địa chỉ) đến đặt vấn đề với X về việc nhận ghi lô, đề trái phép của người chơi rồi chuyển cho người phụ nữ này để hưởng lợi tiền chênh lệch. X đồng ý và thống nhất với nhau khoảng 18 giờ hằng ngày sẽ có người đến nhà X để giao nhận trực tiếp bảng đề và tiền. Do đó, hằng ngày ngoài việc ghi xổ số đúng quy định pháp luật thì X còn nhận ghi số lô, số đề trái phép cho khách khi có nhu cầu, bằng hình thức ghi qua tờ giấy nhỏ hay gọi là “cáp đề” đối với những người đến ghi trực tiếp và qua tin nhắn của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng, số Imei: 357374094155734, được gắn S số thuê bao 0944.837.721; tiền chơi và tiền trúng thưởng sẽ được giao nhận trực tiếp với nhau. Sau đó X tổng hợp các số lô, số đề và số tiền khách chơi vào 01 (một) tờ giấy khổ A4 có tiêu đề “BẢNG KÊ DỰ THƯỞNG LÔ TÔ THÀNH PHỐ” hay gọi là “Bảng đề” để chuyển đi như đã thống nhất. Hồi 17 giờ 58 phút ngày 20/7/2024 khi X đang thực
hiện hành vi mua bán số lô, số đề trái phép và chưa kịp chuyển cho chủ đề thì bị tổ công tác Đ1 Công an thành phố C bắt quả tang.
Hình thức chơi số lô, số đề và cách tính tiền thắng thua như sau: Đối với số đề người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số đề mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày là trúng thưởng và được trả thưởng theo tỉ lệ gấp 70 lần số tiền đã mua. Đối với số lô, người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số lô người chơi mua trùng với hai số cuối của một trong 27 kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày là trúng thưởng và được trả thưởng 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) trên 01 điểm lô, nếu không trúng thưởng sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô, số đề.
Về số tiền hưởng lợi được cụ thể như sau: Đối với số đề Xanh trích lại cho khách chơi 20% (hai mươi phần trăm) tổng số tiền chơi, khi X gửi số đề cho chủ đề thì được trích lại 25% (hai mươi năm phần trăm) và X được hưởng lợi 5% (năm phần trăm) từ ghi số đề; Đối với số lô Xanh nhận của khách 23.000đ/01 điểm lô (hai mươi ba nghìn đồng trên một điểm lô), X gửi số lô cho chủ đề là 22.500đ/01 điểm lô (hai mươi hai nghìn năm trăm đồng trên một điểm lô), được hưởng lợi 500đ/ 01 điểm lô (năm trăm đồng trên một điểm lô).
Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định được Dương Thị X bán số lô, số đề trái phép cho những người chơi (không trên 10 người) trong đó có: Đàm Văn C, sinh năm 1976 (HKTT: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), mua số đề hết số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng); Lục Văn H, sinh năm 1962 (HKTT: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), mua số đề hết số tiền 60.000₫ (sáu mươi nghìn đồng); Nông Sỹ H2, sinh năm 1962 (HKTT: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), mua số đề hết số tiền 220.000đ (hai trăm hai mươi nghìn đồng); Nguyễn Văn H1, sinh năm 1961 (HKTT: Tổ I, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), mua số đề hết số tiền 264.000đ (hai trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) và một số người chơi khác không xác định được danh tính. Xanh tổng hợp lại chuyển bảng đề cho chủ đề để hưởng lợi số tiền phần trăm.
Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của Dương Thị X là 10.273.000 đồng (mười triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng) và bị bắt quả tang trước khi kịp chuyển cho chủ đề, chưa có kết quả mở thưởng.
Hành vi của bị cáo Dương Thị X đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 166/CT-VKSTP ngày 10/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố Dương Thị X tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Về tài sản bị tạm giữ: Bị cáo cho biết chiếc điện thoại Iphone XR bị cáo sử dụng để bán số lô, số đề với khách; chiếc điện thoại Nokia bị cáo dùng để liên lạc với gia đình nhưng đã cũ hỏng nên không yêu cầu trả lại.
Trong tổng số tiền bị thu giữ là 14.025.000 đồng có 9.860.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo, số tiền còn lại là 4.165.000 đồng là tiền bị cáo ghi số lô, số đề và bán các vé lô tô của ngày 20/7/2024, trong đó bán các vé lô tô được 640.000 đồng. Số tiền bán vé lô tô bị cáo đã thanh toán cho Công ty TNHH MTV X1.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Thị X. Đề nghị tuyên bố bị cáo Dương Thị X phạm tội “Đánh bạc”. Hình phạt chính: đề nghị phạt tiền bị cáo Dương Thị X từ 25 đến 30 triệu đồng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: đề nghị tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ NOKIA, bàn phím bấm, màu đen; Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.525.000 đồng; Trả lại cho bị cáo số tiền 10.500.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo cho biết bị cáo đang bị ung thư tuyến giáp và rất ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định:
Hồi 17 giờ 58 phút ngày 20/7/2024, tổ công tác thuộc Đ1 Công an thành phố C phát hiện và bắt quả tang Dương Thị X có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái pháp luật tại nhà riêng. Dương Thị X bán số lô, số đề trái phép cho người chơi rồi tổng hợp lại chuyển bảng đề cho chủ đề để hưởng lợi tiền phần trăm. Tổng số tiền Dương Thị X sử dụng để đánh bạc là 10.273.000 đồng
(mười triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng) và bị bắt quả tang trước khi kịp chuyển bảng cho chủ đề, chưa có kết quả mở thưởng.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3.] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền sự, mặc dù đã được xóa nhưng vẫn không được coi là người có nhân thân tốt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về hình phạt:
Hội đồng xét xử xét thấy: Tội đánh bạc thuộc nhóm tội phạm xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội, bị cáo hiện nay đang điều trị bệnh hiểm nghèo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy hành vi của bị cáo chưa đến mức phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, làm gương cho những người có ý định phạm tội. Tuy nhiên, do bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học cho mình mà lại thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng mức phạt tiền nghiêm khắc, cao hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về tài sản và xử lý vật chứng:
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR là phương tiện bị cáo sử dụng để bán số lô, số đề trái phép nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng đã cũ hỏng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Trong tổng số tiền 14.025.0000 đồng có 3.525.000 đồng là tiền bị cáo bán số lô, số đề nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Số tiền còn lại là 10.500.000 đồng có 9.860.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo và 640.000 đồng là tiền bị cáo bán vé lô tô cho Công ty TNHH một thành viên X1 nên cần trả lại cho bị cáo.
[6] Các nhận định khác: Đối với Đàm Văn C, Lục Văn H, Nông Sỹ H2, Nguyễn Văn H1 có hành vi mua số lô, số đề trái phép với Dương Thị X. Số tiền mua số lô, số đề của 4 người này dưới 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và 4 đối tượng đều
không có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc. Do vậy, hành vi của Đàm Văn C, Lục Văn H, Nông Sỹ H2, Nguyễn Văn H1 không cấu thành tội “Đánh bạc” nên Công an thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đàm Văn C, Lục Văn H, Nông Sỹ H2, Nguyễn Văn H1 là đúng pháp luật.
Đối với hành vi mua bán số lô, số đề của những người chơi với X và người mà X chuyển số lô, số đề đến. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh nhân thân những người này. Nếu có căn cứ sẽ tiến hành điều tra, xử lý trong vụ án khác.
[7] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Thị X.
- Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu trắng, có số I (Theo quyết định chuyển vật chứng): 357374094155734, được lắp số thuê bao 0944.837.721, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ NOKIA, màu đen, bàn phím bấm, có số I (Theo quyết định chuyển vật chứng): 354176107845562, được lắp số thuê bao 0379.367.935, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: số tiền 3.525.000 đồng (ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) trong tiền Việt Nam: 14.025.0000 đồng (mười bốn triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 41 ngày 16/10/2024.
- Trả lại cho bị cáo Dương Thị X: số tiền 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) trong tiền Việt Nam: 14.025.0000 đồng (mười bốn triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 41 ngày 16/10/2024. Nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị X phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Dương Thị X 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Xác nhận bị cáo Dương Thị X đã nộp số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên lai thu tiền số 0001369 ngày 16/10/2024.
Xác nhận: số vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 15 ngày 25/10/2024.
Buộc bị cáo Dương Thị X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 175/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 175/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị X - Đánh bạc
