|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 175/2024/HSST Ngày: 05/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tuất
2. Ông Phạm Thế Ngọc
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu Thư ký
Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham
gia phiên tòa: Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024; Theo
quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST ngày 22 tháng 8 năm 2024
đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đức A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm:
2006; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên
cha: Lê Văn K (Sinh năm: 1982); Họ tên mẹ: Lê Thị N (Sinh năm: 1983), Gia đình
có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị
tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/06/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam
số 2 – Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Chị Phan Thị Hoài P; Sinh năm: 1999; HKTT: Liên Thanh, Y, Nghệ
An; Nơi cư trú: Số A, ngõ F K, T, T, Hà Nội. (Vắng mại tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Khoảng 23h ngày 08/06/2024, Lê Đức A đến nhà bạn là anh Nguyễn Văn L
(sinh năm: 1999, Nơi cư trú: phòng trọ tầng 3, số A đường K, T, T, Hà Nội) để
chơi. Sau đó, Đức A đi lên tầng 4 khu trọ thì thấy phòng của chị Phan Thị Hoài
P (sinh năm: 1999) mở cửa, trên giường có 01 chiếc điện thoại Iphone 13
Promax, trên ghế có 01 đồng hồ nữ có in dòng chữ DW Daniel Welington,
không có ai trong phòng. Đức A liền trộm cắp số tài sản này. Sau đó, Đức A đã
tự dò được mật khẩu điện thoại Iphone 13 Promax và đăng nhập vào máy xóa
tài khoản Icloud cũ rồi đăng nhập Icloud mới, đặt lại mật khẩu điện thoại để sử
dụng.
Hồi 14h00 ngày 09/06/2024, chị Phan Thị Hoài P phát hiện tài sản bị mất
trộm nên đến Công an xã T, huyện T, thành phố Hà Nội trình báo.
Hồi 16h30 ngày 09/06/2024, Lê Đức A đến Công an xã T đầu thú và tự
nguyện giao nộp số tài sản đã trộm cắp được cho Công an xã T.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Lê Đức A khai nhận hành
vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Đức A phù hợp với các tài liệu do Cơ
quan điều tra thu thập được.
Ngày 09/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có yêu cầu
định giá tài sản đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax và 01 đồng hồ nữ
Đức A trộm cắp được của chị P.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS ngày 12/06/2024 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc điện
thoại Iphone 13 có giá trị là: 15.800.000 đồng, 01 chiếc đồng hồ đeo tay màu
vàng, có in dòng chữ DW Daniel Welington đã qua sử dụng có giá trị là 500.000
đồng.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 và 01 chiếc đồng hồ đeo tay màu vàng,
có in dòng chữ DW Daniel Welington quá trình điều tra xác định đây là tài sản
của chị Phan Thị Hoài P nên ngày 23/07/2024, Cơ quan cảnh sát điều - Công an
huyện T đã trả lại cho chị P số tài sản nêu trên. Chị P đã nhận lại tài sản và không
có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKS-TT ngày 05/8/2024 Viện kiểm sát nhân
dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Đức A về tội “Trộm cắp
tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, công nhận nội dung bản cáo trạng
là đúng và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất, cho bị cáo được cải
tạo ngoài xã hội.
Bị hại chị Phan Thị Hoài P vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố
lời khai của chị P trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa, sau
khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các
tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố
bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điều 173; Các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
65; Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Đức A từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ
ngày tuyên án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Trên cơ sở
xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị
cáo, lời khai của bị hại...
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T,
điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của
bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người
tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc
quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều
tra, biên bản định giá, biên bản tiếp nhận người ra đầu thú, biên bản xác minh, lời
khai của bị hại, vật chứng thu giữ... cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có
trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 23h ngày 08/06/2024, tại phòng
trọ tầng D, nhà số A đường K, T, T, Hà Nội, Lê Đức A đã trộm cắp 01 chiếc điện
thoại Iphone 13 Promax có giá trị là: 15.800.000 đồng và 01 đồng hồ nữ có in
dòng chữ DW Daniel Welington có giá trị là 500.000 đồng của chị Phan Thị Hoài
P, tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 16.300.000 đồng, phạm vào tội “Trộm cắp tài
sản” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện
kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm
phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây
mất trật tự trị an xã hội; Tổng số tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt sau khi thực
hiện hành vi phạm tội tuy có giá trị không lớn nhưng được thực hiện với lỗi cố
ý. Bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn
không làm chủ được bản thân dẫn đến thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Vì
vậy cần phải đưa ra một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi
phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm
chung.
[3] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết: Tại cơ quan
điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm
tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã ra đầu thú; Tài sản
chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại; Bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường
dân sự...Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các
điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với bị
cáo.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Gia đình bị cáo có
đơn cam kết bảo lãnh xin cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương và
gia đình; Khi phạm tội bị cáo mới chỉ vừa tròn 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn
nhiều hạn chế nhưng vì lòng tham nên đã nhất thời thực hiện hành vi phạm tội.
Thiết nghĩ những ngày tháng tạm giữ, tạm giam đã đủ là bài học đắt giá cho bị
cáo. Hội đồng xét xử thấy có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo
dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương theo quy định tại điều
65 Bộ luật Hình sự để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, tu dưỡng đồng thời thể
hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên
không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về bồi thường dân sự: Bị hại là chị Phan Thị Hoài P đã nhận lại toàn bộ
tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm
và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại có quyền kháng cáo theo
quy định pháp luật.
Từ các nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Các điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
- Xử phạt:
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Điều 65; Bộ luật Hình sự 2015;
Áp dụng: Các Điều 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
Bị cáo Lê Đức A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do
cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Giao
bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục
trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định của Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản
án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại – Chị Phan Thị Hoài P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao
bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 175/2024/HSST ngày 05/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 175/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đức A phạm tội "Trộm cắp tài sản"
