Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 175/2024/HS-PT.

Ngày: 23/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân.

Ông Phạm Trường Du.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024. Do Bản án Hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXXPT-HS ngày 04/9/2024.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Bùi Văn L, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1971 tại tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 7/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn V (Đã chết); Con bà: Bùi Thị B (SN 1945); Vợ: Bùi Thị N (SN 1974); Có 02 con (lớn SN 1995, nhỏ SN 1999); Tiền án; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

* Người bị hại (không kháng cáo):

  1. Anh Phạm Văn T (SN 1990). Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
  2. Anh Bùi Văn Đ (SN 1992). Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
  3. Anh Lê Đức A (SN 1989). Địa chỉ: Thôn D, xã E, TP ., tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị K (SN 1978). Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
  2. Ông Bùi Văn T1 (SN 1972). Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
  3. Ông Bùi Văn D (SN 1976). Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 27/7/2016, Bùi Văn L (SN 1971), trú tại thôn Đ, xã T, huyện T đến quán K1 thuộc thôn M, xã T, huyện T để dự liên hoan khai trương quán. Tại đây còn có Bùi Văn D (SN 1976), Bùi Ngọc V1 (SN 1975), Bùi Văn T1 (SN 1972) và rất nhiều bạn bè của anh A1, chị K đến dự và ăn liên hoan. L được xếp ngồi mâm ở trên tầng 2 của quán. Ăn uống được một lúc thì L đi xuống tầng 1 để giao lưu. Tại phòng hát dưới tầng 1 của quán có Phạm Văn T (SN 1990), trú tại khu C, xã T, huyện T, Bùi Văn Đ (SN 1992), trú tại thôn B, xã T, huyện T, Lê Đức A (SN 1989), trú tại thôn D, xã E, TP ., tỉnh Đắk Lắk và một số người khác. Khi đó, L đi vào uống bia giao lưu với mọi người trong phòng hát thì xảy ra mâu thuẫn với nhóm của T nên giữa LT xảy ra xô đẩy trong phòng hát. Nhóm của T lao lại đánh L thì L thoát ra ngoài và gọi điện cho Bùi Văn T2 (SN 1993), trú tại thôn Đ, xã T, huyện T (là em trai của L), mang kiếm (loại kiếm tự chế) đến. T2 cầm theo 01 cây kiếm có cán gỗ dài khoảng 20cm, lưỡi kim loại một cạnh sắc dài khoảng 40-60cm, mũi nhọn, có một cạnh sắc đến quán trước cổng trường tiểu học T4, cách quán K2 khoảng 50-70m. Lúc này, T2 thấy TL đang giằng co với nhau, Đ lao vào đẩy L ra. Thấy vậy, Bùi Văn T2 cầm kiếm lao lại chém 01 cái từ trên xuống dưới về phía Đ, Đ giơ tay phải lên đỡ, nên bị lưỡi kiếm trúng vào tay làm Đ bị thương vùng bàn tay phải, Đ bỏ chạy về phía ngã ba xã T. Ngay lúc đó, L giật kiếm từ tay của T2 cầm trên tay phải, rồi vung chém một cái về nhóm người đi cùng với T. Lưỡi kiếm trúng vào vùng cổ và trượt tiếp lên vùng má bên phải của Đức A làm Đức A ngã xuống nền đường. Tiếp đó L cầm kiếm đuổi chém T thì T bỏ chạy ra hướng sân vận động UBND xã T. Tại khu vực mương nước gần sân vận động, L vung kiếm chém một số cái (không xác định là chém bao nhiêu nhát) về phía T, T tiến sát lại giơ tay đỡ kiếm thì bị thương ở vùng tay, vùng ngực. T nhặt 01 viên gạch đập 01 cái vào vùng trán của L. Sau đó, T bỏ chạy vào bên trong quán của chị K, mọi người can ngăn nên L không xô xát nữa. Sau khi chém gây thương tích cho Đức A, T thì L đã ném thanh kiếm tại khu vực mương nước cạnh sân vận động UBND xã T.

Hậu quả: Bùi Văn L bị thương tích vùng bàn tay trái, vùng trán. Phạm Văn T bị một số thương tích ở tay, vùng ngực; Lê Đức A bị thương tích vùng cổ và má phải và Bùi Văn Đ bị thương tích vùng bàn tay phải được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện T. Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã T đã tiếp nhận thông tin và chuyển vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền. Sau đó L, T2 đã đi làm ăn xa, do chưa làm việc được với các đối tượng nên Cơ quan Điều tra chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với LT2. Đến ngày 07/3/2024, Bùi Văn L đến Cơ quan Điều tra đầu thú và đến ngày 12/3/2024, Bùi Văn T2 đầu thú khai nhận hành vi gây thương tích như đã nêu trên. Ngoài L, T2 gây thương tích cho T, ĐĐức A thì không còn ai khác tham gia xô xát, gây thương tích nữa.

- Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 08 giờ 35 phút ngày 28/7/2016 tại Bệnh viện đa khoa huyện T đối với Phạm Văn T có các vết thương: 01 (một) vết thương phía sau trên cẳng tay phải kích thước (15×03)cm, sâu 03cm, vết thương làm đứt cơ tay phải, vết có chiều từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, bờ mép vết thương sắc gọn; 01 (một) vết thương tại mặt trong cổ tay phải kích thước (05×05)cm, sâu 0,5cm, vết có chiều vuông góc với cánh tay, bờ mép vết thương sắc; 01 (một) vết thương tại vùng ngực trái, kích thước (15×01)cm, sâu 01 vết có chiều từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phải sang trái, bờ mép vết thương sắc gọn; 01 (một) vết thương tại phần dưới ngực trái kích thước (05×01)cm, sâu 0,1cm, vết có chiều từ trên xuống dưới, chếch chéo ngang từ phải sang trái, bờ mép vết thương sắc gọn.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 288/2016/TTPΥ ngày 31/8/2016 của Trung tâm P, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Phạm Văn T là 26% (hai sáu phần trăm).

- Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 08 giờ 00 phút ngày 28/7/2016 tại Bệnh viện đa khoa huyện T đối với Lê Đức A có các vết thương: 01 (một) vết thương tại vùng cổ bên phải kích thước (12×04)cm, vết thương làm đứt cổ ức đòn trũng phải, đứt tĩnh mạch cảnh ngoài phải, vết có chiều từ trên xuống dưới chếch từ ngoài vào trong, bờ mép vết thương sắc gọn; 01 (một) vết thương tại vùng cằm và hàm bên phải kích thước (07×1,5)cm, sâu sát xương cằm và hàm, vết có chiều ngang dọc theo xương hàm bên phải.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 287/2016/TTPY ngày 01/9/2016 của Trung tâm P, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Đức A là 16% (mười sáu phần trăm).

- Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 09 giờ 05 phút ngày 28/7/2016 tại Bệnh viện đa khoa huyện T đối với Bùi Văn Đ có các vết thương: 01 (một) vết thương tại mu bàn tay phải kích thước (07×1,5)cm, sâu sát xương, vết thương làm đứt gân duỗi ngón 4-5 và gãy xương bàn 4 tay phải, vết có chiều từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, bờ mép vết thương sắc gọn.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 289/2016/TTPY ngày 30/8/2016 của Trung tâm P, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Bùi Văn Đ là 17% (mười bảy phần trăm).

- Tại Bản kết luận số 366/2024/TgT ngày 09/4/2024 của Trung tâm P kết luận vật gây thương tích đối với thương tích của Lê Đức A và tại Bản kết luận số 364/2024/TgT ngày 22/3/2024 và số 365, 366/2024/TgT ngày 09/4/2024 của Trung tâm P kết luận vật gây thương tích đối với thương tích cho Phạm Văn T, Bùi Văn ĐLê Đức A tạo nên bởi vật có cạnh sắc; T3 kiếm có cán gỗ dài khoảng 20cm, lưỡi kim loại dài 40-60cm, mũi nhọn, một cạnh sắc làm vật gây thương tích nên được dùng làm vật gây thương tích để tác động vào cơ thể Phạm Văn T, Bùi Văn ĐLê Đức A có thể gây nên thương tích ghi đã ghi nhận trong các tài liệu, hồ sơ giám định do Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa cung cấp.

Đối với việc Bùi Văn L bị thương trong quá trình xô xát. Tuy nhiên, do thương tích nhẹ, không điều trị tại cơ sở y tế nào. L không có yêu cầu, đề nghị gì về thương tích của bản thân nên không xem xét.

* Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã tiến hành truy tìm vật chứng là 01 cây kiếm kim loại, loại kiếm có cán gỗ màu đen dài khoảng 20cm, lưỡi kim loại dài khoảng 40- 60cm, mũi nhọn, một cạnh sắc mà Bùi Văn L đã vứt bỏ tại khu vực mương nước gần sân bóng của UBND xã T, nhưng không có kết quả. Đối với chiếc điện thoại các đối tượng sử dụng để liên lạc gọi điện giữa LT2. Do thời gian xảy ra vụ án đã lâu, các điện thoại này đã hư hỏng nên không thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự. Bùi Văn LBùi Văn T2 đã tự nguyện bồi thường dân sự cho phía các bị hại tổng số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), các bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên không xem xét.

Bản án sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 2 Điều 104; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 33 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999. Xử phạt Bùi Văn L 30 (ba mươi) tháng tù. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo khác không kháng cáo, trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/7/2024, Bùi Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, nguyên nhân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 17 giờ ngày 27/7/2016, Bùi Văn L (SN 1971), trú tại thôn Đ, xã T, huyện T đến quán K1 thuộc thôn M, xã T, huyện T để dự liên hoan khai trương quán. Trong khi uống rượu, L xuống phòng hát Karaoke giao lưu với mọi người trong phòng hát thì xảy ra mâu thuẫn với nhóm của T và bị nhóm của T đánh nên L điện thoại cho Bùi Văn T2 (SN 1993), trú tại thôn Đ, xã T, huyện T (là em trai của L), mang kiếm (loại kiếm tự chế) đến. Lúc đến nơi, T2 thấy TL đang giằng co với nhau còn Đ lao vào đẩy L ra nên T2 cầm kiếm lao lại chém 01 cái về phía Đ, Đ giơ tay phải lên đỡ nên bị thương vùng bàn tay phải, Đ bỏ chạy. Ngay lúc đó, L giật kiếm từ tay của T2 rồi chém một cái về nhóm người đi cùng với T thì trúng vào vùng cổ và trượt tiếp lên vùng má bên phải của Đức A. Tiếp đó L đuổi chém một số cái (không xác định bao nhiêu) về phía T, T tiến sát lại giơ tay đỡ kiếm thì bị thương ở vùng tay, ngực. Đồng thời T cũng nhặt 01 viên gạch đập 01 cái vào vùng trán của L rồi bỏ chạy vào bên trong quán của chị K. Mọi người can ngăn nên L không xô xát nữa. Sau khi bị gây thương tích T, Đức AĐ đến cơ sở ý tế điều trị thương tích. LT2 bỏ đi làm ăn xa đến ngày 07/3/2024 Bùi Văn L đến Cơ quan Công an đầu thú và ngày 12/3/2024 Bùi Văn T2 đầu thú.

Tại các Bản kết luận giám định pháp y về thương tích. Anh Lê Đức A bị tổn thương cơ thể là 16%; Anh Bùi Văn Đ bị tổn thương cơ thể 17%; Anh Phạm Văn T bị tổn thương cơ thể 26%.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Do đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo:

[3.1] Xét thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Quá trình điều tra bị cáo đã “thành khẩn khai báo” về hành vi phạm tội của mình; “tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “bị hại có lỗi một phần”, “Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”; Bị cáo đã “Đầu thú”, “Tích cực ủng hộ Quỹ vì người nghèo” nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999. Các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Tại cấp phúc thẩm Bùi Văn L xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể bị cáo đã nộp toàn bộ án phí sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0001106 ngày 20/9/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá theo quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Tại đơn xin giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tạo tại địa phương cũng như đơn trình bày điều kiện, hoàn cảnh gia đình có nội dung: Vợ bị bệnh hiểm nghèo (ung thư), các con của bị cáo đã lập gia đình và đang đi làm ăn xa, bản thân hiện là lao động chính, đang phải nuôi mẹ đẻ già yếu vợ bệnh tật (Chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận và đề nghị xem xét cho bị cáo).

Trong vụ án, nguyên nhân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội là do bị hại chửi bới, xúc phạm và đánh bị cáo trước dẫn đến bị cáo bị kích động. Hành vi phạm tội của bị cáo một phần bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của các bị hại gây ra, tuy nhiên không thuộc trường hợp tinh thần bị kích động mạnh hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Do đó bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 46 của BLHS 1999.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nguyên nhân dẫn đến hành vi pham tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cũng như nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình. HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999, điều đó thể hiện sự ăn năn hối cải, hối hận với việc làm của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hoá thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế; Là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục, đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung. Hơn nữa bị cáo gây thương tích cho các bị hại thời gian đã lâu (9 năm), nay thương tích của bị hại đã hoàn toàn bình phục và đi làm việc bình thường. Các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng Điều 60 của BLHS năm 1999, chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho được hưởng án treo để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật để sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

[5] Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy, kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn L là có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm thẩm: Bị cáo Bùi Văn L đã nộp đủ.

[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ. Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 104; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 45; Điều 53 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn L 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (23/9/2024).

Giao bị cáo Bùi Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Văn L đã nộp đủ.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

THẨM

  • - Bị cáo; Người bị hại,
  • - TAND; VKSND Cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công H.Thạch Thành, TH;
  • - TAND H.Thạch Thành, TH;
  • - VKSND H.Thạch Thành, TH;
  • - Chi cục THADS H.Thạch Thành, TH;
  • - UBND xã Thạch Sơn, Thạch Thành, TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 175/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger