Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HS-PT

Ngày 23 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các thẩm phán: Bà Lê Thị Thuỷ;

Bà Lê Thị Hiệu.

-Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 239/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo kháng cáo: Trần Văn T - Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1984, tại: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.Nơi cư trú: thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Xuân H và bà Trịnh Thị L; Có vợ là Vũ Thị H1 và 01 con sinh năm 2015. Tiền án: không;Tiền sự: Không

Nhân thân: Tại Bản án số 55/2019 ngày 21/8/2019 của TAND Quận 2- Thành phố H tuyên phạt Trần Văn T 2 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong bản án ngày 23/01/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Trần Xuân H (có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Bà Nguyễn Thị H2, Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh S1, thuộc trung tâm Nhà nước pháp lý tỉnh T( Có mặt)

* Bị hại: Anh Bùi Văn T1 - Sinh năm 1990( Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

* Người làm chứng:

  • - Chị Bùi Thị G; Sinh năm 2002 - Vắng mặt;
  • - Chị Trịnh Thị M ; Sinh năm 1998 - Vắng mặt;
  • - Anh Nguyễn Văn S ; Sinh năm 1995 - Vắng mặt;
  • - Anh Trịnh Văn H3 ; Sinh năm 1994 - Vắng mặt;
  • - Anh Bùi Văn H4 ; Sinh năm 1992 - Vắng mặt;
  • - Anh Trần Bá T2; Sinh năm 1994 - Vắng mặt;
  • - Anh Bùi Đức D; Sinh năm 1991 - Vắng mặt;
  • - Bà Trịnh L1; Sinh năm 1958 - Vắng mặt;

Đều có địa chỉ tại: Thôn D, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

  • - Chị Bùi Thị G ; sinh năm 2002;( Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn F, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 17/7/2023, sau khi tham gia tổ chức trại hè thiếu nhi tại sân vận động xã X, huyện N, Trần Văn T đến uống bia tại quán bia nhà anh Trịnh Văn H3 ở thôn D, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, T có mời anh Bùi Văn T1 uống bia. Anh T1 tỏ thái độ khó chịu, không uống bia với T và bảo T đi về khiến cho T bức xúc và phát sinh mâu thuẫn, chửi bới nhau với anh T1. Lúc này, T có dùng tay tát vào má trái và gáy của T1 ba cái rồi lấy ghế nhựa tại quán ném anh T1 nhưng anh T1 tránh được. T1 cũng lấy ghế nhựa ném lại T nhưng không trúng. Sau đó, những người có mặt tại quán can ngăn nên T và T1 không đánh nhau nữa mà trở về bàn tiếp tục uống bia thêm một lúc thì T1 về nhà nhưng do quá bức xúc về việc bị T đánh nên T1 đã lấy một ống tuýp bằng kim loại đi tìm T để đánh. Khi đến khu vực ngã ba gần đoạn đường bê tông nối từ tuyến đường nhựa liên xã vào thôn A, xã X, huyện N, chờ T đến. Khi T điều khiển xe máy đến nơi thì T1 cầm ống tuýp vụt về phía T nhưng không trúng. T đi qua T1 thì T1 tiếp tục vung ống tuýp đánh thêm một nhát sượt trúng vào đỉnh đầu phía sau T. Bị T1 đánh, T vẫn đi xe qua T1 thì bị T1 cầm ông tuýp đuổi theo nhưng không kịp. Bức xúc về việc bị T1 đuổi đánh, T chủ động dừng xe, nhổ một cọc tre bên đường đi bộ lại phía T1. T và T1 chửi bới nhau một lúc thì lao vào đánh nhau, cụ thể: T1 dùng ống tuýp đánh T nhiều lần, trong đó có một lần trúng bắp tay trái của T gây bầm tím và một lần T dơ gậy tre ra đỡ khiến đầu ống tuýp của T1 sượt vào cằm phải của T gây xước da, rỉ máu. Còn T dùng gậy tre đập một lần vào bả vai trái của T1 (nhát đập này T1 dơ tay trái lên đỡ nên vùng bắp tai trái T1 cũng bị đập trúng, phần đầu gậy trúng vào vùng gáy T1 gây xước da); một lần vào vùng lưng

sườn trái bên dưới bả vai của T1; một lần vào vùng hông sau bên trái của T1. Khi bị T đánh nhiều lần gây đau, T1 vẫn cầm ống tuýp nhưng ôm hai tay ra sau gáy để phòng thủ thì bị T dùng gậy tre đánh trúng hai bên khuỷu tay khiến T1 bị văng ống tuýp ra. T tiếp tục dùng gậy tre đánh về phía T1 thêm nhiều lần, trong đó có một lần sượt qua vùng chẩm phải gây xước da, rỉ máu và một lần sượt qua khuỷu tay trúng vào đỉnh đầu T1 khiến T1 bị choáng, ngã khuỵu theo hướng sấp mặt xuống đường bê tông; khi T1 ngã, hai bên đầu gối và trán phải của T1 va vào nền đường bê tông gây trầy xước da. Khi T1 đang khom người ngồi dậy, T tiếp tục dùng gậy tre đánh vào mặt ngoài đùi phải của T1 thì được người dân đến can ngăn, đưa T1 đi điều trị tại bệnh viện còn Trần Văn T thì đến Công an xã X để trình báo sự việc.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1476/KLTTCT-PYTH, ngày 30/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T. Kết luận:

  • - Vết thương vùng chẩm phải; Đã được điều trị hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm cùng đỉnh chẩm phải: 01%.
  • - Vết rách da, sưng nề ở vùng trán phải, đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức trán phải: 03%.
  • - Vết thương rách da vùng đỉnh đầu; đã được điều trị, hiện còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái: 01%.
  • - Vết thương rách da vùng đỉnh đầu đã được điều trị, hiện còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm trái: 01%.
  • - Vết bầm tím dọc từ bả vai phải đến cánh tay, đã được điều trị, hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương: 0%.
  • - Vết bầm tím từ bả vai trái đến sườn trái sau gây tổn thương vỡ ổ chảo trái, gãy mỏm cùng vai trái, gãy cung sau xương sườn số 7,8 bên trái, đã được điều trị, hiện tại còn di chứng hình ảnh vỡ ổ chảo trái, gãy mỏm cùng vai trái, gay cung sau xương sườn 7,8 bên trái: 24%.
  • - Vết rách da tại khủy tay phải; đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau ngoài khủy tay phải: 01%.
  • - Vết rách da dưới vú trái, đã được điều trị hiện còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng ngực dưới vú trái: 01%.
  • - Vết rách da rỉ máu tại khủy tay trái; đã được điều trị hiện còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước trên gối phải: 01%
  • - Vết rách da tại mặt trước đầu gối phải: đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước trong gối phải: 01%
  • - Vết xước da tại mặt trước đầu gối trái; đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước trên gối trái: 01%
  • Vết bầm tím tại mặt bên phải đùi phải, đã được điều trị hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng mặt ngoài đùi phải: 01%.

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/9/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tỉnh thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn T1 tại thời điểm giám định là: 33%.

- Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số 1857/KLVGTT-PYTH ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T thể hiện:

  • + Vết thương rách da chảy máu ở vùng chẩm phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày;
  • + Vết rách da đã khô sưng nề ở vùng trán phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Các vết thương rách da đã khô tại vùng đỉnh đầu: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết bầm tím dọc từ bả vai phải đến cánh tay: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh;
  • + Vết thâm bầm tím không rõ hình từ bả vai trái đến sườn trái sau: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh;
  • + Vết rách da tại khuỷu tay phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết trầy xước da không rõ hình tại vai gáy: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết rách da dưới vú trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết rách da rỉ máu tại khuỷu tay trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Các vết rách da tại mặt trước đầu gối phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết xước da không rõ hình tại mặt trước đầu gối trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết bầm tím không rõ hình tại mặt bên phải đùi phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh;
  • + Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

* Đối với Trần Văn T: Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1855/KLTTCT-PYTH, ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T. Thể hiện: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T tại thời điểm

giám định là 01% (Một phần trăm và Kết luận giám định vật gây thương tích số 1856/KLVGTT-PYTH ; cụ thể:

  • + Vết sưng nề bầm tím tại vị trí đỉnh đầu phía sau bên phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày;
  • + Vết xước rách da, sưng nề tại vị trí cằm bên phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết sưng nề tại mặt ngoài cánh tanh trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày;
  • + Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 149/KLGÐ ngày 05/6/2024 của V thể hiện: Tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 17/7/2023 và tại thời điểm giám định, Trần Văn T bị bệnh các rối loạn khí sắc (cảm xúc) thực tổn, rối loạn cảm xúc mức độ nhẹ. Tại các thời điểm trên, Trần Văn T đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Văn T về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Ngày 14/11/2023 Trần Văn T có đơn đề nghị không khởi tố xử lý đối với Bùi Văn T1.

* Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 tre bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại, đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Thanh chở xử lý.
  • - 01 ống tuýp bằng kim loại bị hại dùng để gây thương tích cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, bị cáo không yêu cầu giải quyết phần dân sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình thỏa thuận và bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện N, tỉnh Thanh Hoán đã quyết định:

Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (20/9/2023).

Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, bị cáo Trần Văn t có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình bị cáo có công cách mạng, ông bà nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước, tại cấp sơ thẩm bị hại tiêp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị caó.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Điều 54 BLHS. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.Sửa quyết định của bản án sơ thẩm 18/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện N, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt giảm hình phạt cho bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T hợp lệ và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm và tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hai phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:

Sáng ngày 17/7/2023, Trần Văn T gặp anh Bùi Văn T1 ở quán bia nhà anh Trịnh Văn H3 ở thôn D xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Trần Văn T mời anh Bùi Văn T1 uống bia nhưng anh T1 không uống mà tỏ thái độ khó chịu với Trần Văn T và bảo Trần Văn T đi về khiến cho T bức xúc và phát sinh mâu thuẫn chửi với nhau với anh T1, Trần Văn T có dùng tay tát vào má trái, gáy của anh T1 ba cái sau đó T và anh T1 dùng ghế nhựa ném nhau nhưng không trúng được mọi người can ngăn cả hai ra về. Do bức xúc vì bị Trần Văn T đánh nên bị hại Bùi Văn T1 đã dùng ống sắt tìm đánh Trần Văn T bị tổn thương 01 % cơ thể. Bị anh T1 đánh Trần Văn T đã dùng gậy tre đánh vào nhiều vị trí trên cơ thể anh Bùi Văn T1. Hậu quả anh Bùi Văn T1 bị tổn thương 33% cơ thể.

Do đó, với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích”. Theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo giảm hình phạt của bị cáo:Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Bị cáo Trần Văn T đã có hành vi dùng gậy tre là hung khí nguy hiểm đánh vào nhiều vị trí trên cơ thể Bùi Văn T1. Hậu quả anh Bùi Văn T1 bị tổn thương 33% cơ thể.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của người khác làm ảnh hưởng trật tự trị an trên địa bàn bị pháp luật nghiêm cấm.Tuy nhiên xét nguyên nhân dẫn đến hành vi bị cáo gây thương tích cho bị hại thấy rằng sau khi Trần Văn T và anh Bùi Văn T1 xô xát với nhau đã được mọi người can ngăn cả 2 đã ra về nhưng anh T1 lại tiếp tục về nhà lấy tuýp sắt ra tìm Trần Văn T và khi thấy Trần Văn T thì anh T1 đã dùng tuýp sắt vụt về phía T nhưng không trúng. T đi qua T1 thì T1 tiếp tục vung ống tuýp đánh thêm một nhát sượt trúng vào đỉnh đầu phía sau T. Bị T1 đánh, T vẫn đi xe qua T1 thì bị T1 cầm ông tuýp đuổi theo nhưng không kịp. Bức xúc về việc bị T1 đuổi đánh, T chủ động dừng xe, nhổ một cọc tre bên đường đi bộ lại phía T1. TT1 chửi bới nhau một lúc thì lao vào đánh nhau, cụ thể: T1 dùng ống tuýp đánh T nhiều lần, trong đó có một lần trúng bắp tay trái của T gây bầm tím và một lần T dơ gậy tre ra đỡ khiến đầu ống tuýp của T1 sượt vào cằm phải của T gây xước da, rỉ máu. Còn T dùng gậy tre đập đập nhiều phát lên người anh T1 gây tổn hại 33 % sức khoẻ. Sau đó Trần Văn T đến Công an xã X để đầu thú khai sự việc. Như vậy bị hại anh Bùi Văn T1 cũng có lỗi trong việc dẫn đến bị cáo T gây thương tích cho bị hại.

Trần Văn T đã dùng gậy tre là hung khí nguy hiểm đánh vào nhiều vị trí trên cơ thể Bùi Văn T1. Hậu quả anh Bùi Văn T1 bị tổn thương 33% cơ thể. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo; tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi; sau khi phạm tội đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại, ngoài ra, vụ án xảy ra cũng do một phần lỗi của bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các

điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 05 năm tù là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo điểm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: ông bà nội bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được nhà nước tặng huân chương kháng chiến. Bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vụ án xảy ra cũng do một phần lỗi của bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan công an để đầu thú khai báo. Bị cáo là người hạn chế năng lực hành vi dân sự, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tại phiên Toà phúc thẩm đại diện VKS nhân dân tỉnh T đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, Điều 54 BLHS đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm 18/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện N, tỉnh Thanh Hóa về giảm hình phạt và đề nghị giảm cho bị cáo là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận kháng cáo của bị cáo .

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, Điều 54 BLHS.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T về giảm hình phạt

Sửa quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện N, tỉnh Thanh Hóa về giảm hình phạt.

Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (20/9/2023).

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Như Thanh;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Như Thanh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 175/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T “Cố ý gây thương tích”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger