|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 175/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/11/2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Quốc Nông.
Ông Lê Hữu Tới.
Thư ký Tòa án: bà Đỗ Kim Oanh - thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Lữ Thị Phương Q - Kiểm sát viên.
Ngày 22/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 121/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/7/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: SN A, ngõ B, khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: chị Trịnh Thị N, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Tiến M trình bày:
- Về hôn nhân: anh và chị Trịnh Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25/12/2018 tại UBND thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do từ năm 2015 đến năm 2018 chị N đi Nhật Bản làm ăn, sau khi trở về Việt Nam đến năm 2020 thì tiếp tục đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan đến nay chưa về. Quá trình chị N đi làm ăn ở nước ngoài, thời gian đầu có gọi điện về hỏi thăm tình hình con cái ở nhà, về sau chị N không còn liên lạc với anh và không hỏi thăm đến gia đình nữa. Do cuộc sống vợ chồng xa cách, dần dần dẫn đến những bất đồng trong quan điểm, lối sống, không còn tiếng nói chung, đã sống ly thân nhau từ năm 2014 đến nay, không còn quan tâm tới nhau nữa. Theo thông tin anh biết được thì hiện nay chị N đang sống và làm việc tại Đài Loan, chưa về nước, nhưng anh không biết địa chỉ cụ thể của chị N bên Đài Loan. Vì thời gian chờ đợi đã lâu, nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị N.
- Về con chung: anh và chị Trịnh Thị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh H - sinh ngày 18/7/2009 và cháu Nguyễn Nhật L - sinh ngày 21/12/2012, hiện nay anh đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyện vọng của anh khi ly hôn là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
- Về tài sản, công nợ chung: anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Tiến M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: anh Nguyễn Tiến M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Trịnh Thị N có hộ khẩu thường trú tại Khu phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng hiện nay chị N đã xuất cảnh, chưa nhập cảnh về nước. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Cục Q1 - Bộ C có văn bản số 13354/QLXNC-P3 ngày 25/6/2024 trả lời Công văn số 70/CV-TA ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: chị Trịnh Thị N - sinh ngày 04/11/1998 đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất là ngày 25/10/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Tòa án đã tiến hành xác minh, yêu cầu ông Trịnh Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 là bố mẹ đẻ chị Trịnh Thị N cung cấp địa chỉ của chị N và thông báo cho chị N biết về việc anh M có đơn xin ly hôn đối với chị. Ông T và bà T1 đã thông tin cho chị N biết về việc anh M xin ly hôn, nhưng chị N không gửi văn bản, ý kiến gì để Tòa án xem xét và không cung cấp địa chỉ cho ông T, bà T1 để ông bà cung cấp cho Tòa án. Chị N chỉ trao đổi với ông bà là đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh M và đồng ý để anh M trực tiếp nuôi dưỡng hai con vì hiện nay chị đang làm ăn xa, chưa có điều kiện về nước để chăm sóc các con, chị sẽ tự nguyện chu cấp cho các con theo trách nhiệm của mình. Chị N không cung cấp địa chỉ, anh M có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật đối với chị Trịnh Thị N; anh Nguyễn Tiến M có đơn xin giải quyết vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh M và chị N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: anh Nguyễn Tiến M và chị Trịnh Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, ngày 25/12/2008 được UBND thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị N là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản và Đài Loan từ năm 2015, thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc, quan tâm đến nhau và gia đình, sau đó anh chị không còn liên lạc với nhau nữa và sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau nữa. Qua đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị N không có sự vun đắp từ hai phía, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Chị N đến nay vẫn chưa về nước, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm dần phai nhạt. Nay anh M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn chị N.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh M và chị N xảy ra đã lâu, mức độ đã trầm trọng, đã sống ly thân nhau nên thực tế tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh M, cho anh M được ly hôn chị N là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: anh Nguyễn Tiến M và chị Trịnh Thị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh H - sinh ngày 18/7/2009 và cháu Nguyễn Nhật L - sinh ngày 21/12/2012. Anh M có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
HĐXX xét thấy, cháu Nguyễn Minh H và Nguyễn Nhật L là con chung của anh M và chị N, hai cháu chưa đủ tuổi thành niên nên cần phải giao cho bố hoặc mẹ cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, chị N không có ý kiến gì gửi Tòa án, anh M có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, các cháu hiện đang ở với bố, chị N vẫn chưa nhập cảnh về nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nguyễn Minh H và Nguyễn Nhật L cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Anh M tự nguyện không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, nên chấp nhận.
Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: anh M không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: anh M phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến M.
- Về hôn nhân: anh Nguyễn Tiến M được ly hôn chị Trịnh Thị N.
- Về con chung: anh Nguyễn Tiến M và chị Trịnh Thị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh H - sinh ngày 18/7/2009 và cháu Nguyễn Nhật L - sinh ngày 21/12/2012.
Giao hai cháu Nguyễn Minh H và Nguyễn Nhật L cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M.
Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ: anh Nguyễn Tiến M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: anh Nguyễn Tiến M phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000406 ngày 09/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh M đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: anh Nguyễn Tiến M có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Chị Trịnh Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 175/2024/HNGĐ-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 175/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình”
