|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2024/DS-PT
Ngày: 12-4-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hà Chí Quốc.
Các Thẩm phán:
- Ông Hồ Văn Cường;
- Ông Trần Thanh Tòng.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 369/2023/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 137/2023/DS-ST, ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2024/QĐ-PT, ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Bùi Thế H, sinh năm 1983; cư trú tại: Tổ E, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh H: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ D, khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 12-6-2023). Có mặt.
* Bị đơn: Ông Ngô Văn H2, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông H2: anh Ngô Văn T, sinh năm: 1988; địa chỉ: ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H2: ông Phạm Văn T1 – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
* Người kháng cáo: Ông Ngô Văn H2– là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 6 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Ngày 26-6-2021, ông Ngô Văn H2 có vay của anh H số tiền 570.000.000 đồng, mục đích vay là để mua cây cao su thanh lý, anh H trực tiếp giao 570.000.000 đồng cho ông H2 tại nhà anh H, khi vay ông H2 có viết giấy vay cho anh H giữ, thỏa thuận miệng lãi suất là 2%/tháng và hẹn 10 ngày sau sẽ trả nhưng đến nay ông H2 vẫn không trả được khoản tiền gốc và lãi nào.
Nay anh H khởi kiện yêu cầu ông H2 trả 570.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 07-7-2021 đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi cho đến khi ông H2 trả xong số tiền trên. Chữ viết và chữ ký trong giấy nợ là của ông H2.
Quá trình làm việc ông H2 vắng mặt nên không có lời khai, ông H2 ủy quyền cho bà Chu Thị H3, bà H3 cũng không có lời khai và vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập nên không có lời khai.
Bản án sơ thẩm số 137/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của anh Bùi Thế H đối với ông Ngô Văn H2.
Buộc ông Ngô Văn H2 có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Thế H số tiền nợ gốc là 570.000.000 đồng và 124.268.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 694.268.000 (sáu trăm chín mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 09/10/2023, bị đơn ông Ngô Văn H2 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì ông H bắt ép ông kí giấy nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn ông Ngô Văn H2 cung cấp chứng cứ mới là chứng từ trả nợ cho nguyên đơn số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn H2 và đồng ý khấu trừ số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng ông H2 đã chuyển khoản trả cho anh Bùi Thế H.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn H2, khấu trừ số tiền 150.000.000 đồng ông H2 đã trả cho anh H, căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Ngô Văn H2 làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn H2 :
Anh Bùi Thế H cung cấp cho Tòa án bản gốc “Giấy vay tiền” có chữ ký, chữ viết của ông H2. Nội dung giấy vay nợ thể hiện ông Ngô Văn H2 có nhận của ông Bùi Thế H số tiền 570.000.000 đồng cọc tiền cao su thanh lý vào ngày 26/6/2021 và hẹn 10 ngày sau sẽ trả. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn ông Ngô Văn H2 là bị đơn và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt. Quá trình Toà án xác minh tại địa phương cũng thể hiện ông H2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng do nợ nần nên đã bỏ đi nơi khác sinh sống.
Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào giấy nợ mà ông H cung cấp để giải quyết vụ án là có căn cứ. Việc ông H2 kháng cáo cho rằng ông có vay tiền ông H, nhưng do ông H cho vay với lãi suất quá cao nên cộng cả tiền gốc và lãi mới có số tiền 570.000.000 đồng. Từ đó, nên ông mới bị ông H cưỡng ép viết giấy nợ số tiền 570.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H2 trình bày nhưng không có căn cứ cho việc trình bày là có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H2.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm có cơ sở xác định vào ngày 26-6-2021, ông H2 có vay của anh Bùi Thế H số tiền 570.000.000 đồng như lời khai của đại diện nguyên đơn là có căn cứ. Trong giấy vay tiền, thỏa thuận thời hạn trả là 10 ngày kể từ ngày 26-6-2021. Nay anh H khởi kiện yêu cầu ông H2 trả số tiền vay gốc là 570.000.000 đồng và tiền lãi nên có căn cứ chấp nhận. Do trong giấy nhận nợ các bên không thỏa thuận tiền lãi suất trong thời kỳ vay và tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ; nay nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi suất là 0,83%/tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày hết hạn trả nợ là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Buộc ông Ngô Văn H2 có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Thế H: Số tiền vay gốc là 570.000.000 đồng và trả tiền lãi, cụ thể như sau: 570.000.000 đồng x 0,83% x 02 năm 2 tháng 08 ngày (từ ngày 07-7-2021 đến ngày 15-9-2023) = 124.268.000 đồng. Tổng cộng ông H2 phải trả cho anh H số tiền gốc và lãi là 694.268.000 đồng.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Ngô Văn H2 cung cấp thêm tài liệu là chứng từ chuyển khoản trả nợ cho anh T2 số tiền 150.000.000 đồng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác nhận có nhận số tiền trên của ông H2 và đồng ý khấu trừ số tiền 150.000.000 đồng trong tổng số tiền 694.268.000 đồng.
Vì vậy, sau khi khấu trừ số tiền trên buộc ông Ngô Văn H2 phải có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Thế H số tiền: 544.268.000 (năm trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
[5] Từ đó cho thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Thế H là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm ông H2 kháng cáo và được cấp phúc thẩm chấp nhận 01 phần. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của ông H2, sửa bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí phúc thẩm: Ông Ngô Văn H2 kháng cáo và được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn H2;
- - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 137/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh;
- - Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của anh Bùi Thế H đối với ông Ngô Văn H2.
Buộc ông Ngô Văn H2 có nghĩa vụ trả cho anh Bùi Thế H số tiền nợ gốc và lãi là 544.268.000 (năm trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
2.1. Án phí sơ thẩm:
- Ông Ngô Văn H2 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 25.770.720 (hai mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi nghìn bảy trăm hai mươi) đồng.
- Anh Bùi Thế H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho anh Bùi Thế H 15.671.000 (mười lăm triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí do bà Nguyễn Thị H1 đã nộp theo Biên lai số 0008268 ngày 14-6-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Án phí phúc thẩm:
Ông Ngô Văn H2 không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho ông H2 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông H2 đã nộp theo Biên lai thu số 0008621 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Chí Quốc |
Bản án số 175/2024/DS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 175/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay buộc trả số tiền nợ gốc