|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 175/2024/DS-PT Ngày: 06-5-2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Bà Võ Bích Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 614/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng S (chết)
- Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S:
- 1/ Bà Nguyễn Phương D, sinh năm 1989.
- 2/ Ông Nguyễn Triệu V, sinh năm 2000.
- 3/ Ông Nguyễn Triệu V1, sinh năm 2000.
- 4/ Bà Dương Thị Bích P, sinh năm 1969.
- Cùng địa chỉ: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Thái H, sinh năm 1982 – Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố C.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1950.
- Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Bùi Thị Kim H1 – Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Ông Lưu Văn T, sinh năm 1962.
- 2/ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966.
- Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- - Người làm chứng:
- 1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966
- 2. Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1986
- 3. Ông Võ Hoàng H3, sinh năm 1948
- 4. Ông Đinh Văn D1, sinh năm 1968.
- 5. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1959
- 6. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961
- 7. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1962
- 8. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1963
- 9. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1952
- 10. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960
- Cùng địa chỉ: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên bà Dương Thị Bích P trình bày: Vào năm 1990, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng S được cha là ông Nguyễn Văn P1 tặng cho phần đất là thửa 702 tờ bản đồ 06 diện tích 4.245m² và tặng cho ông Nguyễn Minh C phần đất thuộc thửa 703, cả hai phần đất tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Sau khi được tặng cho phần đất nêu trên nguyên đơn trực tiếp canh tác và sử dụng đến nay. Do hoàn cảnh khó khăn nên chưa thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất. Đến 24/10/2014, ông C được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận số CH02757 đối với thửa 702 thì nguyên đơn ông S, bà P mới biết cấp nhầm thửa đất. Do đó, Nguyên đơn ông S và bà P yêu cầu công nhận phần đất thửa 702 cho ông S và buộc ông C tách trả quyền sử dụng đất cho ông S.
Những người thừa kế tố tụng của ông S: Bà Nguyễn Phương D, ông Nguyễn Triệu V và ông Nguyễn Triệu V1 trình bày ủy quyền lại cho mẹ ruột là Bích P giải quyết.
- Tại đơn phản tố ngày 22/4/2022, đơn phản tố bổ sung ngày 22/4/2022 và đơn yêu cầu phản tố bổ sung ngày 04/10/2022 bị đơn trình bày: Vào năm 1994, ông C được cha là Nguyễn Văn P1 và mẹ là Trần Thị M tặng thửa 702 diện tích là 4.245m² và thửa 1478 diện tích là 1.306m² đất tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vào năm 1994, ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đến năm 2014 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo 302, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02757 ngày 21/10/2014. Sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất ông C cho cha mẹ cho thuê đất lấy tiền sinh hoạt và bản thân ông đi buôn bán nên đi về chăm sóc cha mẹ. Sau khi cha mẹ mất, do bận mua bán nên ông C cho vợ chồng ông S canh tác không phải thuê mướn. Khi lộ đi ngang qua đất thì phát sinh tranh chấp và cho người khác thuê đất không có sự đồng ý của ông C. Do đó, bị đơn ông C có yêu cầu phản tố yêu cầu ông S, bà P trả lại thửa 702, tờ bản đồ 06, diện tích 4245m², loại đất trồng lúa cho ông C. Phần đất tại vị trí A và B của bản trích đo địa chính ngày 26/10/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thuộc thửa 703 tờ bản đồ 06 là phần đất cha mẹ ông C hứa cho thêm ông C và ông C đã canh tác trên phần đất này, hiện nay ông P1 làm thủ tục tặng cho ông S thì ông xin nhận giá trị cây là 43.750.000 đồng. Đối với cây trồng tại thửa 702 bị đơn không trả giá trị vì nhiều lần ngăn cản nguyên đơn vẫn trồng trên đất tranh chấp. Phần vay vốn ngân hàng ông C đã tất toán, giải chấp xong.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 và ông Lưu Văn T trình bày: Ông bà có xây bậc thang trên thửa 702 để làm đường đi chung, được sự đồng ý của nguyên đơn và bị đơn. Nếu ai có quyền sử dụng yêu cầu di dời thì ông bà đồng ý và không cần hỗ trợ. Ông T và bà H2 không tranh chấp phần đất này. Bà H2 là em của ông C và chị của ông S trình bày nguồn gốc đất tranh chấp là do cha mẹ là ông P1 và bà M tặng cho ông C. Ông C cho cha mẹ thuê để lấy tiền sinh hoạt. Hiện tại, ông P1 và bà M qua đời ông C mới đòi lại đất từ ông S nhưng ông S không trả và cho người khác thuê trồng cây.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng S1, chi nhánh B trình bày: ngày 25/5/2018, ngân hàng có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Công ty TNHH MTV T4 Cường với tài sản thế chấp của ông Nguyễn Minh C là 02 thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02757 và CH02758 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 21/10/2014 để cho vay 420.000.000 đồng. Nay công ty TNHH MTV T4 C đã thanh toán hết nợ.
- Người làm chứng: Ông Đinh Văn D1, ông Nguyễn Văn H4, bà Nguyễn Thị A, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Văn N trình bày: Các ông bà biết ông S canh tác trên đất tranh chấp giáp với bà Nguyễn Thị H2 và cho bà Nguyễn Thị A, ông Võ Hoàng H3 thuê hay cầm cố khoảng 15 năm, sau đó ông S chuộc lại đất và lên bờ trồng cây. Họ không biết ông P1 tặng cho đất cho ông S hay ông C1.
- Người làm chứng ông Võ Hoàng H3 cho rằng ông S canh tác trên đất tranh chấp giáp với bà Nguyễn Thị H2 và cho bà Nguyễn Thị A, ông Võ Hoàng H3 thuê hay cầm cố khoảng 15 năm, sau đó ông S chuộc lại đất và lên bờ trồng cây. Chính ông P1 nói cho ông H3 biết ông P1 tặng cho thửa đất đang tranh chấp cho ông S.
Bà Lê Thị Mỹ L: vợ chồng bà L chỉ làm thuê cho bà P không liên quan đến vụ tranh chấp này.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 59/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng S và bà Dương Thị Bích P đối với yêu cầu công nhận 4.245m² (có73m2 HLLG), thửa 702, tờ bản đồ 06 cho nguyên đơn ông Nguyễn Hồng S.
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với yêu cầu trả giá trị cây trồng tại thửa 702. Buộc bị đơn ông Nguyễn Minh C trả giá trị cây trông trên thửa 702 cho nguyên đơn với số tiền 232.967.000 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Minh C. Công nhận diện tích tranh chấp qua đo đạc thực tế là 4.245m² (có73m2 HLLG), thửa 702, tờ bản đồ 06, loại đất Luc, đất tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ (theo bản trích đo địa chính số 87/TTKTTNMT ngày 26/10/2022 của Trung Tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C) thuộc quyền sử dụng của bị đơn ông Nguyễn Minh C.
- Buộc nguyên đơn bà Dương Thị Bích P và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hồng S là bà Nguyễn Phương D, ông Nguyễn Triệu V và ông Nguyễn Triệu V1 trả giá trị cây trồng tại thửa 703 số tiền 43.750.000 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị đơn ông Nguyễn Minh C.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, các nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng: yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, công nhận thửa 702 cho nguyên đơn vì ông P1 là cha ông S đã tặng cho ông S thửa 702 nhưng ông C đăng ký quyền sử dụng thửa đất này. Lời khai của những người làm chứng trong vụ án phù hợp với tình tiết chính gia đình nguyên đơn canh tác trên đất tranh chấp từ trước đến nay, lời khai của bị đơn có sự mâu thuẫn trong chính đơn phản tố của bị đơn. Do nguyên đơn sử dụng đất ngay tình liên tục và người làm chứng cũng cung cấp lời khai cho rằng thửa đất đang tranh chấp ông P1 cho nguyên đơn nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bị đơn bà Bùi Thị Kim H1: Bị đơn ông Nguyễn Minh C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 702 vào ngày 24/5/1994 theo đúng quy định pháp luật. Bị đơn ông C đã cấp đổi 302, được UBND xã N xác nhận là phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, công nhận thửa 702, tờ bản đồ số 6, diện tích 4.245m² đất cho ông Nguyễn Minh C. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, phía ông S trồng 77 cây vú sữa trên đất của ông C trong thời gian các bên đã phát sinh tranh chấp nên ông C chỉ có trách nhiệm trả giá trị đối với 40 cây nhãn, 13 cây cóc, không trả giá trị đối với 77 cây vú sữa.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Qua lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa kết hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định thửa đất 702 do ông C đứng tên trong sổ mục kê ruộng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/5/1994, diện tích 4.000m². Ngày 16/9/2014, ông C lập thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, được cấp lại giấy chứng nhận ngày 21/10/2014, diện tích 4.245m². Các biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đều có chữ ký của ông P1, ông C với tư cách người sử dụng đất, chủ quản lý đất liền kề. Tại Công văn số 1454/UBND-TNMT ngày 15/6/2023, Ủy ban nhân dân huyện P xác định, việc cấp giấy chứng nhận cho ông C vào năm 1994, 2014 là đúng quy định của pháp luật, căn cứ vào hồ sơ địa chính đang quản lý thì không có trường hợp cấp nhầm thửa đất. Như vậy, có căn cứ để xác định, thửa đất 702 thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông C. Đối với cây trồng trên đất thửa 702 theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/8/2022 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2024 ghi nhận trên thửa đất 702 có các cây trồng gồm: 77 cây vú sữa loại A và 04 cây loại C; 40 cây nhãn loại A và 03 cây loại C; 13 cây cóc loại A. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên xác định tranh chấp từ năm 2017. Do đó,có cơ sở để xác định, phía ông S trồng 77 cây vú sữa trên đất của ông C trong thời gian các bên đã phát sinh tranh chấp, không có sự đồng ý của ông C, nên ông C chỉ có trách nhiệm hoàn giá trị đối với 40 cây nhãn loại A, 13 cây cóc loại A, tổng số tiền 89.063.000 đồng, không hoàn giá trị đối với 77 cây vú sữa loại C là phù hợp. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông C, không chấp nhận kháng cáo của bà P, bà D, ông V, ông V1, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, buộc ông C trả cho ông S (những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông S gồm P, bà D, ông V, ông V1) số tiền 89.063.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; của luật sư và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ông Nguyễn Hồng S, bà Dương Thị Bích P khởi kiện yêu cầu công nhận phần đất thửa 702, tờ bản đồ 06, diện tích 4.245m² cho ông Nguyễn Hồng S và buộc ông Nguyễn Minh C tách trả quyền sử dụng đất trên cho ông S phía bị đơn có đơn phản tố yêu cầu công nhận đất và buộc nguyên đơn trả lại đất nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật dân sự mà cụ thể “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợptrả tiền là 10.000.000 đồng, nên đây là quan hệ đòi lại tài sản mà tự ý nghỉ họlà ơlaf.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc công nhận cho nguyên đơn được quyền sử dụng thửa đất 702, thấy rằng theo sổ mục kê ruộng đất thửa đất 702 do ông C đứng tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/5/1994, diện tích 4.000m². Ngày 16/9/2014, ông C lập thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, được cấp lại giấy chứng nhận ngày 21/10/2014, diện tích 4.245m². Thời điểm ông C đăng ký kê khai thửa đất 702 và được cấp giấy chứng nhận vào năm 1994, 2014 thì ông P1 cũng đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 703, 705, 635, hai bên không tranh chấp. Các biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đều có chữ ký của ông P1, ông C với tư cách người sử dụng đất, chủ quản lý đất liền kề. Đến năm 2017, ông P1 tặng cho ông S các thửa đất 703, 705, 635. Đồng thời, Ủy ban nhân dân huyện P xác định, việc cấp giấy chứng nhận cho ông C vào năm 1994, 2014 là đúng quy định của pháp luật, căn cứ vào hồ sơ địa chính đang quản lý thì không có trường hợp cấp nhầm thửa đất. Như vậy, có căn cứ để xác định, thửa đất 702 thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông C, ông S không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông P1 tặng cho ông thửa đất 702, trong khi đến năm 2017, ông S mới được ông P1 tặng cho các thửa đất 703, 705 và 635, không bao gồm thửa đất 702. Do đó, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc buộc bị đơn không đồng ý trả giá trị cây trồng (cây vú sữa) trên đất đối cho nguyên đơn. Nhận thấy, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/8/2022 ghi nhận trên thửa đất 702, 703 có các loại cây trồng gồm: chanh không hạt 218 cây loại A, 15 cây loại C; 02 cây dừa loại A; 79 cây sầu riêng loại C và 04 cây loại B; 273 cây mít loại D; 69 cây cam xoàn loại B; 58 cây nhãn EDO loại A; 02 cây cóc loại A; 580 cây đu đủ loại B; 147 cây vú sữa loại C. Tuy nhiên, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2024 ghi nhận trên thửa đất 702 có các cây trồng gồm: 77 cây vú sữa loại A và 04 cây loại C; 40 cây nhãn loại A và 03 cây loại C; 13 cây cóc loại A. Đối chiếu giữa hai biên bản xem xét thẩm định nêu trên, có căn cứ để xác định, thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án, trên thửa đất 702 có các cây trồng gồm: 77 cây vú sữa loại C, 40 cây nhãn EDO loại A, 13 cây cóc loại A. Căn cứ Quyết định số 17/2022/QĐ-UBND ngày 27/5/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc quy định đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng khi nhà nước thu hồi đất thì cây loại A là cây trồng đang trong thời kỳ trưởng thành, cho trái, năng suất cao, ổn định; cây loại B là cây đang thời kỳ sinh trưởng, cho trái chưa ổn định, cây trong thời kỳ già cỗi, năng suất kém; cây loại C là cây đang thời kỳ sinh trưởng, chưa cho trái; cây loại D là cây mới trồng dưới 1 năm. Tại phiên tòa, các bên xác định tranh chấp từ năm 2017. Tại đơn xin xác nhận ngày 25/5/2023, ông C trình bày, trong thời gian tranh chấp chờ Tòa án nhân dân huyện Phong Điền giải quyết, ông S đem vú sữa trồng trên đất của ông, ông không đồng ý nhưng ông S vẫn tiếp tục trồng vú sữa. Trưởng ấp xác nhận, theo nội dung đơn của ông C có thửa đất tại ấp T là đất đang tranh chấp, có chính quyền ấp đến ngăn chặn không cho trồng là đúng. Tại tờ tường trình ngày 29/3/2022, bà P trình bày, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/3/2022, con của ông C là ông T2 đến phần đất đang tranh chấp nhổ, phá hoại 24 cây vú sữa mà vợ chồng bà mới trồng cách đây 02 ngày. Phó Trưởng Công an xã xác nhận, ngày 29/3/2022 xảy ra vụ hủy hoại tài sản tại ấp T, tài sản thiệt hại là 24 nhánh cây vú sữa. Từ những tình tiết nêu trên, có cơ sở để xác định, phía ông S trồng 77 cây vú sữa trên đất của ông C trong thời gian các bên đã phát sinh tranh chấp, không có sự đồng ý của ông C, nên ông C chỉ có trách nhiệm hoàn giá trị đối với 40 cây nhãn loại A, 13 cây cóc loại A, tổng số tiền 89.063.000 đồng, không hoàn giá trị đối với 77 cây vú sữa loại C là phù hợp.
[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chi phí thẩm định ở cấp phúc thẩm: 5.000.000 đồng bị đơn đã nộp xong.
[6] Về án phí: do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Sửa bản án sơ thẩm.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng S và bà Dương Thị Bích P đối với yêu cầu công nhận 4.245m² (có73m2 HLLG), thửa 702, tờ bản đồ 06 cho nguyên đơn ông Nguyễn Hồng S.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với yêu cầu trả giá trị cây trồng tại thửa 702. Buộc bị đơn ông Nguyễn Minh C trả giá trị cây trông trên thửa 702 cho nguyên đơn với số tiền 89.063.000 đồng (Tám mươi chín triệu không trăm sáu mươi ba ngàn đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Minh C. Công nhận diện tích tranh chấp qua đo đạc thực tế là 4.245m² (có73m2 HLLG), thửa 702, tờ bản đồ 06, loại đất Luc, đất tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ (theo bản trích đo địa chính số 87/TTKTTNMT ngày 26/10/2022 của Trung Tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C) thuộc quyền sử dụng của bị đơn ông Nguyễn Minh C. Buộc nguyên đơn bà Dương Thị Bích P và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hồng S là bà Nguyễn Phương D, ông Nguyễn Triệu V và ông Nguyễn Triệu V1 trả lại thửa 702 (theo bản trích đo địa chính số 87/TTKTTNMT ngày 26/10/2022 của Trung Tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C) cho bị đơn.
- Buộc nguyên đơn bà Dương Thị Bích P và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hồng S là bà Nguyễn Phương D, ông Nguyễn Triệu V và ông Nguyễn Triệu V1 trả giá trị cây trồng tại thửa 703 số tiền 43.750.000 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị đơn ông Nguyễn Minh C.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 2.487.500 đồng, khấu trừ 12.735.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu số 0007311 ngày 26/5/2022, nguyên đơn được nhận lại 10.247.500 đồng (Mười triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Bị đơn ông Nguyễn Minh C được miễn án phí (người cao tuổi).
- Chi phí đo đạc định giá: Nguyên đơn phải chịu 9.484.000 đồng (chín triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn đồng), phần này nguyên đơn đã nộp xong. Chi phí định giá ở cấp phúc thẩm bị đơn đã nộp xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí, chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001614 ngày 29/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bị đơn không phải nộp án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tuyết Mai |
Bản án số 175/2024/DS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 175/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
