Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2022/HS-ST

Ngày: 03-11-2022

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Kim Lý;
  2. Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Lưu Hoàng C; sinh năm 2002 tại tỉnh C; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh C; tạm trú: Nhà trọ P, đường D5, khu phố 4, phường M, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lưu Minh T, sinh năm 1965 và bà Hồ Tuyết N, sinh năm 1961; có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát từ ngày 07/4/2022 cho đến nay.

2. Phạm Hoàng Tuấn K, sinh năm 1998 tại tỉnh H; hộ khẩu thường trú: Khu vực 3, phường T, thị xã L, tỉnh H; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ M, đường D10, khu phố 6, phường T, thị xã B, B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Hoàng T, sinh năm 1975 và bà Hứa Thị T1, sinh năm 1978; có 02 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát từ ngày 07/4/2022 cho đến nay.

- Người làm chứng:

  1. Phạm Bá P, vắng mặt;
  2. Tiêu Hồng G, vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thanh Mãi, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: Ấp 14, xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, vắng mặt.
  2. Mai Thị Bảo Nghi, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: Ấp Rạch Trắc, xã Mỹ Phước Tây, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Khu phố 3B, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  3. Đào Thị Thúy An, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: Ấp 6, xã Tân Hội Chung, thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Đường NJ6, khu phố 3B, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  4. Nguyễn Thị Ngân, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: Ấp Thanh Kiều, xã Thanh Long, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Khu phố 3B, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  5. Nguyễn Thành Luận, sinh năm 1997; hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Hoàng C và Phạm Hoàng Tuấn K là bạn bè quen biết nhau. Cả hai bắt đầu sử dụng ma tuý đá từ tháng 3/2022. Trong thời gian sử dụng ma túy, C có quen biết với 01 thanh niên tên Tùng (không rõ lai lịch) và được Tùng thường hay cho ma túy để sử dụng.

Khoảng 19 giờ, ngày 06/4/2022, K gọi điện thoại hỏi C có ở phòng trọ hay không để đến chơi thì C đồng ý. Sau đó, C nhắn tin qua mạng xã hội “Zalo” cho Tùng xin ma tuý đá để sử dụng thì Tùng đồng ý và hẹn đưa ma tuý cho C tại khu vực trước quán Karaoke Hà Lan, đường XC2, khu phố 3, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 69C1-322.98 đi đến phòng số 06, nhà trọ P thì C nhờ K đi đến điểm hẹn với Tùng để lấy ma tuý đem về cùng sử dụng thì K đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển số 69C1- 322.98 đi đến để gặp Tùng và nhận 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, màu xanh chứa ma tuý đem về đưa lại cho C. C cất giấu ma túy vào trong hộp nhựa đựng tăm bông để cạnh chân cầu thang trong phòng số 06.

Sau khi cất giấu ma tuý, Phạm Bá P gọi điện thoại cho C rủ đến quán ốc trên đường H6 thuộc khu phố 6, phường Thới Hoà để uống bia thì C đồng ý. Sau đó, C rủ K và gọi điện thoại rủ Tiêu Hồng G đến quán ốc. Đến khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 07/4/2022, thì C, K, Phong, G quay về phòng số 06 của C để ngủ. Khi C, K, P, G vừa vào phòng số 06, nhà trọ P thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy phối hợp với Công an phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện ma túy, bắt giữ C, K.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 Đoạn ống hút nhựa hàn kín, màu xanh chứa tinh thể màu trắng.
  • 02 Nỏ thủy tinh.
  • 01 Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 69C1- 322.98, số khung: CY059154, số máy: 5C6J059170.
  • 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đen, gắn sim thuê bao số 0868402431 và 0908129823.

Theo Bản Kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 15/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu chất tinh thể bên trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, màu xanh chứa tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng/trọng lượng là M=0,2506gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Phạm Bá P, Tiêu Hồng G khai không biết C, K cất giấu ma túy trong phòng. Kết quả xét nghiệm xác định P có sử dụng ma túy. Ngày 15/5/2022, Công an thị xã Bến Cát đã ra Quyết định xử phạt Phong số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Đối với xe mô tô biển số 69C1 322.98, số khung: CY059154, số máy: 5C6J059170 là tài sản của bà Hồ Tuyết N (sinh năm 1961; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh C). Ngày 05/4/2022, bà N đưa xe cho con là Lưu Hoàng C đi sửa. Bà N không biết C đưa xe cho K đi lấy ma túy. Ngày 27/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả cho xe mô tô trên cho bà N.

Tại bản Cáo trạng số 169/CT-VKSBC ngày 03/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lưu Hoàng C và Phạm Hoàng Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Hoàng C và Phạm Hoàng Tuấn K mỗi bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm sáu tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 Bì thư dán kín bên trong chứa 0,2188 gam Methamphetamine và 02 nỏ thủy tinh.
    • Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đen, gắn sim thuê bao số 0868402431 và 0908129823.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 00 giờ 35 phút, ngày 07/4/2022, tại phòng trọ số 06, nhà trọ P, đường D4, khu phố 4, phường M, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Lưu Hoàng C và Phạm Hoàng Tuấn K đã có hành vi cất giấu 0,2506 gam ma túy loại Methamphetamine trong hộp đựng nhựa tăm bông để cạnh chân cầu thang phòng trọ nhằm mục đích sử dụng.

Xét các các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội, bất chấp hậu quả.

Loại ma túy các bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có trọng lượng 0,2506 gam. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 169/CT-VKSBC ngày 03/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Xét về tính chất và mức độ phạm tội: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo C có vai trò chính, bị cáo K có vai trò giúp sức cho bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” của Phạm Bá P, Công an thị xã Bến Cát đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

[8] Đối với hành vi bán ma túy của đối tượng tên Tùng, hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 bì thư dán kín số 191/MT-PC09 được niêm phong, bên trong chứa 0,2188 gam Methamphetamine là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Đối với 02 nỏ thủy tinh là những vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng. Nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đen, gắn sim thuê bao số 0868402431 và 0908129823. Xét đây là tài sản bị cáo C sử dụng làm phương tiện liên lạc phục vụ cho việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 69C1- 322.98 là tài sản của bà Hồ Tuyết N. Bà N cho K mượn xe nhưng không biết K dùng xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng giao trả xe mô tô trên cho bà N là phù hợp.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh và mức hình phạt:

    Tuyên bố các bị cáo Lưu Hoàng C và Phạm Hoàng Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    • Xử phạt bị cáo Lưu Hoàng C 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/4/2022.
    • Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Tuấn K 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/4/2022.
  2. Về xử lý vật chứng:

    Tuyên tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) Bì thư dán kín số 191/MT-PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa 0,2188 gam Methamphetamine.
    • 02 (hai) Nỏ thủy tinh.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đen, gắn sim thuê bao số 0868402431 và 0908129823.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND tỉnh Bình Dương;
  • Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • VKSND thị xã Bến Cát;
  • Chi cục THADS thị xã Bến Cát;
  • Công an thị xã Bến Cát;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 175/2022/HS-ST ngày 03/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 175/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Lưu Hoàng C và Phạm Hoàng Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger