TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 1749/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2025 V/v tranh chấp về ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4769/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 5529/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1977.
Thường trú: 233 Quốc lộ A, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Bạch Quốc Trung H, sinh năm: 1974.
Thường trú: 233 Quốc lộ A, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Bạch Quốc Trung H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 ngày 12/02/2003 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống khá hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau thì thường phát sinh mâu thuẫn, gây gổ, cãi vã. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc và tình cảm. Ông H thường xuyên tham gia các cuộc nhậu, một mình bà phải gồng ghánh lo cuộc sống gia đình. Rất nhiều lần, cả hai đã cùng nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con chung nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn không được cải thiện. Vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, sự chia sẻ và cảm thông. Nay tại Tòa, bà xác định không còn tình cảm với ông H, yêu cầu Tòa án giải quyết dứt khoát cho bà được ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông Bạch Quốc Trung H có 02 con chung tên Bạch Ngọc Duy K, sinh ngày: 17/12/2003 và Bạch Ngọc Duy K1, sinh ngày: 13/3/2008. Khi ly hôn, ông H yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Bạch Ngọc Duy K1 nên bà đồng ý giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng; bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung tên Bạch Ngọc Duy K đã đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Bạch Quốc Trung H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị L về thời điểm chung sống, về thời điểm kết hôn là sự thật. Tuy nhiên bà L cho rằng ông thường xuyên nhậu nhẹt, không lo kinh tế gia đình là không đúng. Giữa cuộc sống vợ chồng chỉ phát sinh những mâu thuẫn nhỏ, thường ngày, ông có công việc ổn định vẫn lo cho gia đình; đồng thời ông vẫn còn tình cảm, thương yêu vợ con nên không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị L có 02 con chung tên Bạch Ngọc Duy K, sinh ngày: 17/12/2003 và Bạch Ngọc Duy K1, sinh ngày: 13/3/2008. Khi ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bạch Ngọc Duy K1 và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung tên Bạch Ngọc Duy K đã đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
1. Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị L xin ly hôn với ông Bạch Quốc Trung H, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông H hiện đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Bạch Quốc Trung H, yêu cầu ông H đến Tòa để tham gia phiên tòa xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Bạch Quốc Trung H.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
2. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Bạch Quốc Trung H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 ngày 12/02/2003 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà L và ông H được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian, đồng thời tiến hành hòa giải, động viên để các bên có thể nhìn nhận lại tình cảm, bỏ qua cho nhau những mâu thuẫn trong cuộc sống, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng bà L vẫn cương quyết ly hôn. Ông H không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm vợ chồng, không muốn gia đình tan vỡ. Xét thấy, đến thời điểm hiện tại, tình cảm giữa bà L và ông H vẫn không có tiến triển tốt, cuộc sống hôn nhân mệt mỏi, gây nhiều áp lực về tinh thần. Như vậy, mặc dù ông H không đồng ý ly hôn nhưng từ phía bà L đã không còn tình cảm để hàn gắn, cuộc sống hôn nhân gây áp lực, mệt mỏi, chứng tỏ rằng mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài do đó yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà L và ông H có 02 con chung tên Bạch Ngọc Duy K, sinh ngày: 17/12/2003 và Bạch Ngọc Duy K1, sinh ngày: 13/3/2008. Ông H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Bạch Ngọc Duy K1 và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, ông H có chỗ ở, công việc, thu nhập ổn định để nuôi dưỡng con chung; con chung tên Bạch Ngọc Duy K1 trình bày nguyện vọng muốn sống cùng cha; bà L đồng ý giao con chung cho ông H nuôi dưỡng. Do đó để đảm bảo điều kiện tốt và ổn định để con chung phát triển về thể chất, tinh thần nên giao con chung tên Bạch Ngọc Duy K1 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông H không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Con chung tên Bạch Ngọc Duy K, sinh ngày: 17/12/2003, đã đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Bạch Quốc Trung H (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 ngày 12/02/2003 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về con chung: Giao con chung tên Bạch Ngọc Duy K1, sinh ngày: 13/3/2008 cho ông Bạch Quốc Trung H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bạch Quốc Trung H về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Con chung tên Bạch Ngọc Duy K, sinh ngày: 17/12/2003, đã đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình:
Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0079105 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị L, ông Bạch Quốc Trung H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 1749/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 1749/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
