|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 174/2024/HS-ST
Ngày: 31/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Păng Ting Nock
- Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2024/TLST- HS ngày 30/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 35/2024/TB-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Bạch Phi V, tên gọi khác: Chảy, sinh ngày: 03/02/1992, tại Lâm Đồng. Hộ khẩu thường trú: H X, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi cư trú: A N, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Diệu L (đã chết) và bà Bạch Thị Kiều O.
Tiền án:
- Tại Bản án số 103/2008/HSST ngày 04/9/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù 09/11/2010, chấp hành 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/02/2009.
- Tại Bản án số 08/2013/HSST ngày 10/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích".
- Tại Bản án 32/2014/HS-ST ngày 02/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 năm tù, được trừ thời hạn tạm giam nên còn phải chấp hành 08 (tám) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt tại Bản án số 08/2013/HSST ngày 10/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng (còn lại 07 năm 05 tháng 06 ngày tù) là 16 (mười sáu) năm 04 (bốn) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù.
- Tại Bản án số 134/2014/HSST ngày 25/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp phạt 16 (mười sáu) năm 04 (bốn) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù tại Bản án 32/2014/HS-ST ngày 02/04/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Bị cáo phải chấp hành hình phạt là 28 (hai mươi tám) năm 04 (bốn) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù, đã chấp hành hình phạt tù từ ngày 24/4/2024 đến ngày 24/10/2017 được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù tại Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù số 07/2017/QĐ-CA ngày 24/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- - Anh Cao Hoàng N, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ E, Khu phố C, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- - Anh Đặng Lâm V1, sinh năm 1995. Địa chỉ: F A, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- - Anh Lê Đoàn Duy A, sinh năm 1993. Địa chỉ: 3 N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- - Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: B Y, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- - Chị Hoàng Thị Khánh L1, sinh năm 1997. Địa chỉ: H X, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Bạch Phi V là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2014 và có nhiều tiền án. Để có tiền sử dụng ma túy, V mua ma túy từ một đối tượng tên T ở thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (không rõ nhân thân, lai lịch) và bán lại để kiếm lời. Để nhận tiền của người mua ma túy, V đăng ký tài khoản MoMo tên HOANG BẠCH PHI VAN với số điện thoại 0912.894.xxx để giao dịch. Từ ngày 19/10/2022 đến ngày 26/10/2022, V đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều đối tượng, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 11 giờ 20 ngày 19/10/2022, Cao Hoàng N, sinh năm 1996, trú tại: Tổ E, Khu phố C, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng liên hệ với V hỏi mua 01 (một) gói ma túy với giá là 500.000 đồng thì V đồng ý và hẹn N đến phía trước cửa nhà của V để nhận ma túy. Khi đến nơi N gọi điện cho V, lúc này V bọc túi nilon chứa ma túy vào giấy vệ sinh, dán băng keo cố định bên ngoài rồi ném ra cửa sổ cho N. Sau khi nhận được ma túy, N cất vào túi quần và đi về. Khi đi đến đoạn đầu hẻm C, đường N, phường C, thành phố Đ thì bị Công an phường C, thành phố Đ bắt quả tang.
Lần 2: Khoảng 11 giờ 30 ngày 19/10/2022, Đặng Lâm V1, sinh năm 1995, trú tại: F A, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng liên hệ với V mua ma túy thì V đồng ý và hẹn Viên đến hẻm chùa B, đường N, Phường C, thành phố Đ để giao nhận ma túy. Viên nhờ bạn tên H chuyển cho V số tiền 500.000 đồng qua ứng dụng MoMo sau đó V1 đến điểm hẹn gọi cho V để V chỉ chỗ để ma túy. Sau khi tìm thấy gói ma túy ở dưới lề đường mà V chỉ thì V1 bỏ vào túi quần bên trái rồi đi về nhà. Khi đi tới trước nhà số A N, Phường C, thành phố Đ thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ bắt quả tang.
Lần 3: Ngày 26/10/2022, Lê Đoàn Duy A, sinh năm 1993, trú tại: 3 N, Phường A, thành phố Đ, Lâm Đồng liên hệ với V mua ma túy thì V đồng ý và hẹn Duy A đến hẻm chùa B, phường C, thành phố Đ. Khi Duy A đến nơi thì V đã ném gói ma túy ra đường và chỉ chỗ cho Duy A nhặt, sau khi Duy A nhận được ma túy thì V đến gặp trực tiếp rồi nhận số tiên 500.000 đồng mua ma túy từ D. Ngay khi chuẩn bị lên xe rời đi thì bị Công an C bắt quả tang.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cao Hoàng N, Đặng Lâm V1, Lê Đoàn Duy A để điều tra, xử lý theo quy định. Trong vụ án Cao Hoàng N, Cơ quan điều tra thu giữ được 01 cục giấy vệ sinh, dán băng keo trắng đục, bên trong có quấn một gói nylong màu trắng trong, hàn kín, bên trong gói nylon chứa đựng chất tinh thể màu trắng được Phòng K Công an tỉnh L giám định là ma túy, có khối lượng 0,3624g Methamphetamine.
Đối với vụ án Đặng Lâm V1, Cơ quan điều tra thu giữ được 01 gói giấy màu trắng quấn bên ngoài bằng băng keo màu trắng, bên trong có 01 gói nylong màu trắng có chứa chất tỉnh thể màu trắng được Phòng K Công an tỉnh L giám định là ma túy, có khối lượng 0,3634g Methamphetamine.
Đối với vụ án Lê Đào Duy A1, Cơ quan điều tra thu giữ được 01 gói nylon màu trắng trong, được hản kín, có sọc kẻ, bên trong chứa đựng chất tinh thể màu trắng được Phòng K Công an tỉnh L giám định là ma túy, có khối lượng 0,3494g Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 – Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Hoàng Bạch Phi V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Bạch Phi V từ 13 (mười ba) năm đến 14 (mười bốn) năm tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Hoàng Bạch Phi V có 04 tiền án, từ ngày 19/10/2022 đến ngày 26/10/2022, bị cáo đã 03 lần bán ma túy cho các đối tượng Cao Hoàng N, Đặng Lâm V1 và Lê Đoàn Duy A, thu lợi bất chính là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo bị V1 kiểm sát truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì để có tiền thỏa mãn nhu cầu cho bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, ngoài ra còn xâm hại đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn ma túy, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử nhiều lần, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian dài nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với các bản án trước, bị cáo mới chấp hành hình phạt tù từ ngày 24/4/2024 đến ngày 24/10/2017. Vì vậy, cần tổng hợp hình phạt tù của Bản án số 134/2014/HSST ngày 25/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đối với thời hạn tù còn lại mà bị cáo chưa chấp hành.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
[3.1] Tình tiết tăng nặng: không có
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, bị suy thận mãn giai đoạn cuối nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo bán ma túy cho các đối tượng thu lợi bất chính 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Vì vậy, cần buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Hoàng Bạch Phi V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Hoàng Bạch Phi V 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 28 (hai mươi tám) năm 04 (bốn) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù của Bản án số 134/2014/HSST ngày 25/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian đã chấp hành án từ ngày 24/4/2014 đến ngày 24/10/2017.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo nộp lại 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hà Vân Hồng |
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Bạch Phi V 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 28 (hai mươi tám) năm 04 (bốn) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù của Bản án số 134/2014/HSST ngày 25/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian đã chấp hành án từ ngày 24/4/2014 đến ngày 24/10/2017.
