Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TT - TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 174/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yên

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Miến

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Uyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện TT, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh H - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TT, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số số 44/2024/TLST–HNGĐ ngày 12/3/2024 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thanh H, sinh năm 2000 (có mặt tại phiên toà);

Địa chỉ: Xóm Hịch 2, xã MH, huyện MC, tỉnh Hoà Bình;

Bị đơn: Anh Đinh Sỹ H, sinh năm 1999;

Địa chỉ: Thôn 6, xã TX, huyện TT, TP Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hà Thanh H trình bày:

Chị với anh Đinh Sỹ H có thời gian tìm hiểu khoảng hai năm. Hai bên tự nguyện đi đến kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TX, huyện TT, thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 9 năm 2020. Có tổ chức cưới theo phong tục tập quán tại địa phương.

Sau khi cưới vợ chồng chị lên Hoà Bình làm ăn sinh sống, thời gian đầu vợ chồng chị sống hòa thuận. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh H không chịu làm ăn, chơi bời, có quan hệ ngoại tình với người khác. Vợ chồng xảy ra cãi nhau. Chị và anh H sống ly thân hơn một năm nay. Vợ chồng chị không liên lạc gì với nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung cháu Đinh Hà Uy L, sinh ngày 16/11/2020. Hiện tại chị đang nuôi cháu. Công việc của chị là kinh doanh du lịch. Chị đảm bảo đủ điều kiện về vật chất cũng như về tinh thần để nuôi cháu. Chị xin được nhận nuôi cháu và không yêu cầu anh H đóng góp nuôi con chung.

Tài sản chung, công nợ: không có.

Tại phiên tòa chị Hà Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Đinh Sỹ H vì tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn. Về con chung, chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ không có nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Việc Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Việc xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật, việc thu thập chứng cứ, cấp tống đật văn bản tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn.

- Về nội dung: Áp dụng Điều 51, 56, 58, ,81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thanh H và xử cho chị Hà Thanh H được ly hôn anh Đinh Sỹ H.

Về con chung: Giao cháu Đinh Hà Uy L, sinh ngày 16/11/2020 cho chị Hà Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung và nợ: Không có.

Về án phí: Chị Hà Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị Hà Thanh H. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng và đã giao các văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Đinh Sỹ H nhưng tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh H đều vắng mặt nên Toà án không tiến hành lấy lời khai và không hoà giải được. Vì vậy, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện TT ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, anh Đinh Sỹ H vắng mặt lần thứ hai, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đinh Sỹ H.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thanh H và anh Đinh Sỹ H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TX, huyện TT, thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 9 năm 2020. Chị H và anh H kết hôn đảm bảo đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị được xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh chị sống với nhau đã có thời gian hòa thuận, hanh phúc. Đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Do hai bên bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, chị và anh H sống ly thân hơn một năm nay và không liên lạc gì với nhau.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Hà Thanh H kiên quyết xin ly hôn anh Đinh Sỹ H do tình cảm vợ chồng không còn. Phía anh H vắng mặt nhưng theo lời khai của ông Đinh Văn T và bà Sỹ Thị Q là bố mẹ đẻ của anh H xác nhận chị H và anh H đã xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Anh H sẽ không về chung sống cùng chị H. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2015 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thanh H được ly hôn anh Đinh Sỹ H.

[3]. Về con chung: Vợ chồng Chị H và anh H có 01 con chung là cháu cháu Đinh Hà Uy L, sinh ngày 16/11/2020. Chị H xin được nuôi cháu L. Xét nguyện vọng của chị H là phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Đinh Hà Uy L cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa, chị H xác định có đủ điều kiện để nuôi con nên không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đinh Sỹ H cho đến khi chị H có đơn yêu cầu. Anh Đinh Sỹ H có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản chung và nợ: Chị Hà Thanh H và anh Đinh Sỹ H không có tài sản và công nợ chung.

[5]. Về án phí: Chị Hà Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thanh H. Chị Hà Thanh H được ly hôn anh Đinh Sỹ H.

+ Về con chung: Giao cháu Đinh Hà Uy L, sinh ngày 16/11/2020 cho chị Hà Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đinh Hà Uy L đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Anh Đinh Sỹ H có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đinh Sỹ H cho đến khi có yêu cầu mới hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

+ Về tài sản chung và nợ: Không có.

+ Về án phí: Chị Hà Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0017748 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT, Thành phố Hà Nội.

Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chị Hà Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đinh Sỹ H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND huyện TT;

- THADS huyện TT;

- UBND xã TX;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Ngọc Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 174/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thanh H khởi kiện xin ly hôn Đinh Sỹ H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger