|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 174/2024/HS-ST Ngày: 29-7-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Thanh Nhàn.
- Ông Nguyễn Thanh Phú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 171/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 1978, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi ĐKHKTT: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi tạm trú: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: thợ cửa sắt; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Lê Thị L; vợ: Nguyễn Thị Kim Á, có 04 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Họ và tên: Trần Hoài N, sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi ĐKHKTT: Tổ 9, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: công nhân; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Trần Thị P; vợ: Phan Thị Bích N1, có 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T và Trần Hoài N là bạn bè quen biết do cùng làm việc tại công ty G, địa chỉ tại tổ A, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Khoảng tháng 6/2021, T có ý định làm giấy phép lái xe hạng A1 cho con nên lên mạng xã hội facebook tìm kiếm thì thấy trang “Nhận làm bằng cấp, giấy phép lái xe”. Thà lấy thông tin và sử dụng tài khoản zalo “Văn Thà Bùi” liên hệ với người nhận làm giấy tờ giả (không rõ lai lịch) qua tài khoản zalo “Hoan”. Thà hỏi H1 thủ tục làm giấy phép lái xe hạng A1 thì H1 yêu cầu cung cấp hình chụp ảnh thẻ 3x4, chứng minh nhân dân và địa chỉ nhận hàng. Sau khi T nhận được giấy phép lái xe kèm theo hồ sơ thi thì trả cho người giao hàng số tiền 1.200.000 đồng. Tuy nhiên, do lúc này T chưa có tiền nên không đặt làm giấy phép lái xe cho con.
Sau đó, khi vào công ty gỗ Cao Quốc T1 làm việc, T hỏi N có giấy giấy phép lái xe hạng A1 chưa, N nói chưa có thì T nói có quen người làm giấy phép lái xe hạng A1 chỉ cần cung cấp hình chụp chứng minh nhân dân, hình ảnh 3x4 và 1.200.000 đồng, không cần đi thi mà vẫn có giấy phép lái xe hạng A1 và hồ sơ gốc. N đồng ý nhờ T làm giúp và đưa chứng minh nhân dân, hình thẻ 3x4 để Thà dùng điện thoại di động chụp hình lại (điện thoại của T bị hư hỏng đã vứt bỏ). Sau đó, T gửi hình ảnh cho H1 đặt làm giấy phép lái xe hạng A1 cho Trần Hoài N. Khoảng 02 tuần sau, 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) gọi T ra trước cổng công ty G để nhận 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Hoài N và 01 bộ hồ sơ, T đưa cho người này số tiền 1.200.000 đồng. T cầm giấy giấy tờ giả về phòng trọ của T ở ấp L, xã L, huyện B, rồi điện thoại cho N đến lấy. Chiều cùng ngày, N đến gặp T lấy giấy phép lái xe và hồ sơ, N đưa cho Thà số tiền 1.200.000 đồng. Sau đó, Nam cất giữ giấy phép lái xe trong người để tham gia giao thông, còn 01 bộ hồ sơ (không rõ bên trong có giấy tờ gì) thì N cất giữ ở phòng trọ của mình ở ấp L, xã L, huyện B nhưng sau đó N để thất lạc hồ sơ không tìm thấy.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/10/2023, Trần Hoài N điều khiển xe mô tô biển số 66K1- 543.56 chạy đến đoạn đường D thuộc khu công nghiệp M, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã B yêu cầu N dừng xe tiến hành kiểm tra nồng độ cồn. Qua kiểm tra, Tổ tuần tra lập biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Hoài N về hành vi vi phạm: Điều khiển xe mô tô trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn 0,084 mg/1 lít khí thở là vượt quá quy định. Tổ tuần tra tiến hành tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 66K1- 543.56 cùng giấy đăng ký xe; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Hoài N; 01 căn cước công dân mang tên Trần Hoài N (do N tự xuất trình cho lực lượng Công an).
Theo Kết luận giám định số 529/KL-KTHS(TL) ngày 30/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Hoài N là giả.
Ngày 31/10/2023, Đ (nay là thành phố) Bến Cát chuyển giao hồ sơ kèm theo 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] và 01 căn cước công dân mang tên Trần Hoài N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) Bến Cát xử lý vật chứng giao trả cho Trần Hoài N: 01 căn cước công dân mang tên Trần Hoài N.
Cáo trạng số 145/CT-VKSTDM ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Trần Hoài N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức hình phạt từ 09 tháng tù đến 11 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Hoài N mức hình phạt từ 08 tù đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng.
Về biện pháp tư pháp: không đề nghị giải quyết.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối lỗi, nhận thức được việc vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do muốn có giấy phép lái xe hạng A1 để điều khiển phương tiện tham gia giao thông nhưng không phải thi sát hạch nên Trần Hoài N đã nhờ Bùi Văn T truy cập vào trang mạng xã hội để nhờ một đối tượng khác (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) làm giả 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1, có số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10/6/2021 mang tên Trần Hoài N với giá là 1.200.000 đồng để cho N sử dụng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Vào ngày 20/10/2023, khi N sử dụng giấy phép lái xe giả tham gia giao thông đến khu vực phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông tuần tra, phát hiện vi phạm. Căn cứ kết luận giám định số 529/KL-KTHS(TL) ngày 30/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Hoài N là giả. Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Bản Cáo trạng số 145/CT-VKSTDM ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo Trần Hoài N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Tuy nhiên, qua các tài liệu chứng cứ đã được thu thập và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo có hành vi cung cấp thông tin cá nhân để đặt làm giả 01 (một) phép lái xe nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo N có hành vi đồng phạm với đối tượng làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, không phạm vào tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Mặt khác, vụ án đã được trả hồ sơ để điều tra bổ sung và tội danh mà Hội đồng xét xử xác định và tôi danh mà Viện kiểm sát truy tố đều cùng khoản, điều luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến trật tự hành chính, ảnh hưởng đến hoạt động của các Cơ quan nhà nước trong công tác quản lý. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà mỗi bị cáo đã thực hiện. Vụ án có tính chất đồng phạm trong đó Bùi Văn T là người chủ động đề xuất làm giúp Trần Hoài N để làm giả giấy phép lái xe nên mức hình phạt của T phải cao hơn N.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Nhận thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục lao động, cải tạo, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: không có.
[8] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T, Trần Hoài N phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (29/7/2024).
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 64/2024/LCĐKNCT-TA ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (29/7/2024).
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 65/2024/LCĐKNCT-TA ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không có.
4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạo |
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T cùng đồng phạm làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
