Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 174/2023/HS-ST

Ngày 28 - 11 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thoả và ông Đậu Cao Nhu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 161/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Lý Xuân T (tên gọi khác: Không); sinh năm 1991; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lý Văn L, sinh năm 1968; con bà Hồ Thị T1, sinh năm 1968; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay - Có mặt.
  2. Hồ Văn M (tên gọi khác: Không); sinh năm 1992; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn T2, sinh năm 1964; con bà Hồ Thị N, sinh năm 1963; có vợ: Phạm Thị B, sinh năm 1992; con: có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay - Có mặt.
  3. Hồ Văn T3 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1995; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn T4, sinh năm 1958; con bà Hồ Thị T5, sinh năm 1960; có vợ: Mai Thị T6, sinh năm 1996; con: có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay - Có mặt.
  4. Lang Thị Huyền T7 (tên gọi khác: Không); sinh ngày 09/3/2005; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Lang Xô V, sinh năm 1982; con bà Lô Thị H1, sinh năm 1987; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay - Có mặt.

· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thị K, sinh năm 2001 – Vắng mặt.
    Nơi cư trú: Bản Mọi, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An.
  2. Anh Hồ Diên Q, sinh năm 1983 – Vắng mặt.
    Nơi cư trú: Xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  3. Ông Diên Ngọc M1, sinh năm 1949 – Vắng mặt.
    Nơi cư trú: Xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

· Người làm chứng: Chị Hồ Thị T8, sinh năm 1983 – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 30/5/2023, Hồ Văn MHồ Văn T3 cùng rủ nhau đi ăn uống tại bãi biển xã Q, huyện Q. Sau khi ăn uống xong, hết chi phí 700.000đ nên MT3 cùng thống nhất chia đôi số tiền này. Sau đó, MT3 rủ nhau đến quán K2 (địa chỉ: xóm G, xã Q, huyện Q) để hát karaoke. Khi đến quán, MT3 đi lên tầng 2 của quán gặp chị Hồ Thị T8, sinh năm 1983 - là chủ quán rồi cùng nhau thuê phòng hát và 02 nhân viên phục vụ (mọi chi phí thuê phòng, sử dụng dịch vụ, thuê nhân viên thì T3M sẽ cùng nhau chi trả). Trong lúc ngồi đợi chị T8 sắp xếp phòng thì T3M gặp Lý Xuân T. Tại đây, M trao đổi với T về việc sẽ mua ma túy của T để sử dụng khi có nhu cầu thì T đồng ý.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, M, T3 cùng hai nhân viên nữ của quán là Lang Thị Huyền T7Lê Thị K (sinh năm 2001, trú tại bản Mọi, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An) đi vào phòng hát số 4 của quán để hát. Đến 16 giờ cùng ngày thì mọi người nghỉ, không hát nữa nên T3 nói với K gọi chủ quán để thanh toán. Lúc này, do muốn sử dụng ma túy nên M nói với T3 “Ta chơi tý chó cho tỉnh hề”(ý rủ T3 cùng sử dụng ma túy) thì T3 không đồng ý, M nói “Tối anh chạy xe rồi, hút cho tỉnh để chạy xe” nên T3 đồng ý. (T3 nhận thức được sẽ phải chịu chung tiền mua ma túy nếu M yêu cầu). Sau khi được T3 thống nhất việc sử dụng ma túy tại phòng hát (có nghĩa là tiếp tục thuê phòng, thuê nhân viên và sử dụng dịch vụ), khi chị Hồ Thị T8 đưa hóa đơn thanh toán tiền phòng với số tiền 1.700.000đ vào thì M nói với chị T8 lát tính tiền sau (chị T8 hiểu là M cùng mọi người muốn tiếp tục sử dụng dịch vụ) nên đi ra ngoài. Rồi Hồ Văn M nói với T7 “Em lên lấy đồ hộ anh”. Nghe M nói vậy, T7 đi ra khỏi phòng hát số 4 và đi lên phòng bi-a ở tầng 2 gặp T và nói “Anh M ở phòng hát số 4 bảo lấy hộ đồ”. Do trước đó, Hồ Diên Q (sinh năm 1983, trú tại xóm G, xã Q) là chồng của T8 đã đưa 07 viên ma túy dạng hồng phiến cho T và nhờ T bán giúp. T đã sử dụng hết 02 viên nên T lấy từ túi quần bên trái ra 01 túi nilong có 05 viên nén màu hồng rồi đưa cho T7. Lúc này, T7 hiểu là M nhờ mình đi lấy ma túy để mang về phòng hát số 4 sử dụng nên T7 đã cầm và đưa xuống cho M. Đồng thời, T cũng đi xuống phòng hát số 4 gặp M để lấy tiền bán ma túy, khi gặp nhau, M nói T chuẩn bị cho M một bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Nghe vậy nên T đi lên phòng đánh bi-a trên tầng hai của quán karaoke lấy 01 chai nhựa màu trắng đục lỗ có gắn vòi gỗ cùng một mảnh giấy bạc đang để trên thùng xốp ở góc phòng rồi đưa xuống phòng cho M, sau đó quay trở lại tầng 2 nằm chờ.

Khi có bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì M lấy 02 viên ma túy dạng hồng phiến trong túi nilong đặt lên giấy bạc đặt sát vào vòi hút trên thân chai nhựa, dùng bật lửa hơ nóng giấy bạc cho viên hồng phiến tan thành khói và sử dụng bằng cách hít vào miệng. Sau đó, M dùng bật lửa tiếp tục hơ nóng cho Lê Thị K sử dụng. Riêng T3 thì tự đốt ma túy và sử dụng. Lúc này, thấy Lang Thị Huyền T7 chưa sử dụng ma túy nên T3 nói “Hút đi cho tỉnh” nhưng T7 từ chối. Thấy vậy, T3 kéo T7 qua ghế sofa đối diện với MK ngồi, M nói với T7 “Hút đi” rồi đốt lửa hơ cho T7 sử dụng.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác công an huyện Q phối hợp với công an xã Q, công an xã Q tiến hành kiểm tra tại phòng hát số 4 của quán K2 thì phát hiện Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7, Lê Thị K đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, thu giữ 01 túi ni lông màu trắng bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng (nghi ma túy); 01 chai nhựa màu trắng loại 350ml bị bóp méo, trên thân chai được đục lỗ gắn vòi bằng gỗ ở giữa được quấn băng keo màu đen có một đầu được vót nhọn và 01 chiếc bật lửa ga trên bật lửa có in hình quả táo và có dòng “Hoa Việt”. Mở rộng hiện trường, tổ công tác đã thu tại vườn cây nhà ông Diên Ngọc M1 01 (Một) gói nilong màu tím than bên trong có 15 gói ni lông màu trắng bên trong chứa các viên nén màu hồng và viên nén màu xanh (nghi ma túy), tổng cộng có 85 (Tám mươi lăm) viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh; thu giữ của Lý Xuân T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9. Đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Xuân T, Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7, Lê Thị K.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định đối với số ma túy thu giữ tại phòng hát số 4 của quán K2, xác định: 03 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,28g; số viên nén thu tại vườn cây nhà ông Diên Ngọc M1 có tổng khối lượng 7,84g; trong đó: 85 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 7,76g và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,08g.

Kết luận giám định số 583/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 06/6/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu viên nén hình tròn màu hồng (ký hiệu từ M1 đến M15) và mẫu viên nén màu xanh (ký hiệu M16) thu giữ tại vườn cây nhà ông Diên Ngọc M1 gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 7,84gam; Mẫu viên nén hình tròn màu hồng (ký hiệu M17) thu giữ tại phòng hát số 4 của quán K2 gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 0,28gam.

Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 30/5/2023 của Trạm y tế thị trấn C đối với Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7, Lê Thị K thể hiện các đối tượng dương tính các chất ma túy Methamphetamine, AK1; Lý Xuân T dương tính các chất ma túy Methamphetamine và A

Tại phiên tòa các bị cáo Lý Xuân T, Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 175/CT-VKS-QL ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lý Xuân T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định tuy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Lý Xuân T.
  • Xử phạt Lý Xuân T từ 24 đến 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, không phạt tiền bổ sung.
  • Áp dụng Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt chung của hai tội danh đối với Lý Xuân T.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Hồ Văn M.
  • Xử phạt Hồ Văn M từ 07 năm 03 tháng tù đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, không phạt tiền bổ sung.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Lang Thị Huyền T7.
  • Xử phạt Lang Thị Huyền T7 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, không phạt tiền bổ sung.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 38 BLHS đối với Hồ Văn T3.
  • Xử phạt Hồ Văn T3 từ từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, không phạt tiền bổ sung.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Trả lại cho Lý Xuân T 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A9 màu xanh, số imei 359933097817687, gắn thẻ sim 0989765737.

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước (14x9x10)cm bên trong có chứa 01 chai nhựa màu trắng trong suốt loại 350ml; 01 chiếc bật lửa ga (dạng bật lửa khò); 02 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,14g; 01 cuộn giấy bạc bị đốt chuyển thành màu xám, trên bề mặt bám dính chất màu đen cùng vỏ gói niêm phong đã xé; 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định, bên trong có các viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 6,33g cùng vỏ gói niêm phong đã xé.

Về án phí:

Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Lý Xuân T, Hồ Văn MHồ Văn T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Áp dụng Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự cho bị cáo Lang Thị Huyền T7.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà Lý Xuân T, Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, tại phòng hát số 4 của quán K2 (địa chỉ: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) khi Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7 đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Lê Thị K thì bị tổ công tác Công an huyện Q phối hợp với công an xã Q, công an xã Q phát hiện, bắt quả tang. Trước đó, Lý Xuân T đã bán trái phép 05 viên ma túy (Methamphetamine) cho Hồ Văn M để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát số 4. Ngoài ra, sau khi bán ma túy cho M thì T còn cung cấp công cụ, phương tiện để M, T3, T7, K sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi mà Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7, Lý Xuân T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Hành vi mà Lý Xuân T thực hiện bán ma túy cho Hồ Văn M đủ thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã quy kết đối với Lý Xuân T, Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy đối với con người nhưng đã cố ý mua bán và tổ chức sử dụng trái phép; hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Lý Xuân T, Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7 đều đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lý Xuân T có ông bà nội ( ông Lý Xuân H2, bà Hồ THị N1) được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Hồ Văn T3 có ông nội (ông Hồ Văn T9) được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất và bà nội Hồ Thị B1 tham gia dân công hỏa tuyến trong kháng chiến được Quân khu D công nhận; bị cáo Hồ Văn M có ông nội (ông Hồ Văn H3) được tặng huân chương kháng chiến hạng nhì, có bác ruột là liệt sỹ trong kháng chiến chống mỹ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vụ án có nhiều bị cáo và bị truy tố nhiều tội danh khác nhau nên cần phân hóa vai trò, vị trí của từng bị cáo để lên một mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội.

Bị cáo Hồ Văn M là người đã rủ rê Hồ Văn T3 cùng sử dụng ma túy và đã chỉ đạo Lang Thị Huyền T7 là nhân viên của quán trực tiếp gặp Lý Xuân T để lấy ma túy mang đến cho M tổ chức sử dụng. Sau khi nhận được ma túy từ T7 bị cáo đã nói với Lý Xuân T mang dụng cụ sử dụng ma túy xuống cho M làm dụng cụ sử dụng ma túy. Bị cáo phải chịu trách nhiệm chính về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Lý Xuân T bị truy tố hai tội danh “ Mua bán trái phép chất ma túy” cho Hồ Văn M và đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là người chuẩn bị các dụng cụ để cùng với các đối tượng Hồ Văn M, Hồ Văn T3, Lang Thị Huyền T7Lê Thị K sử dụng ma túy. Bị cáo biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người nhưng đã thực hiện hành vi mua bán trái phép. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Lang Thị Huyền T7 là người trực tiếp nhận ma túy từ Lý Xuân T mang đến cho Hồ Văn M tổ chức sử dụng; bị cáo thực hiện hành vi tích cực nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với Hồ Văn M. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Lang Thị Huyền T7Lý Xuân T đồng phạm trong tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò giúp sức nên cần áp dụng hình phạt ngang nhau.

Bị cáo Hồ Văn T3 đồng phạm với vai trò giúp sức, bản thân bị cáo sau khi hát karaoke xong đã gọi thanh toán và định ra về. Khi được bị cáo M rủ sử dụng ma túy đã từ chối. Sau đó đã nhận lời sẽ cùng thanh toán tiền phòng và tiền sử dụng ma túy với M nếu M có yêu cầu (củng cố một phần tinh thần cho bị cáo M thực hiện hành vi của mình). Tuy nhiên, việc cùng tổ chức sử dụng ma túy của bị cáo không được bàn bạc từ trước, nhất thời nảy sinh hành vi phạm tội. Xét thấy, hành vi của bị cáo là có vai trò giúp sức nhưng không đáng kể. Bị cáo biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người nhưng đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo đồng phạm với vai trò giúp sức nhưng vai trò không đáng kể nên áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS xử phạt dưới mức hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung và cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Theo lời khai của Lý Xuân T, số ma túy mà T đã bán cho M là của Hồ Diên Q (sinh năm 1983, trú tại xóm G, xã Q, huyện Q) nhờ T bán hộ. Qua xác minh, hiện nay Q không có mặt tại địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định truy tìm người đối với Q nhưng vẫn chưa có kết quả. Do các chứng cứ chứng minh Q là người cung cấp ma túy cho T chưa thu thập được nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Q. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.

Đối với Lê Thị K là nhân viên quán karaoke Tuấn T10, được chủ quán phân công phục vụ khách tại phòng H4 nhưng đã tự ý sử dụng ma túy tại phòng hát số 4. Khai không góp chung tiền mua ma túy và không có hành vi giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Q đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định pháp luật.

Đối với Hồ Thị T8 là chủ quán karaoke Tuấn T10, nơi các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, T8 không biết các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng hát số 4 của quán thuộc trách nhiệm mình quản lý. Đồng thời, cũng không biết, không cho phép nhân viên của quán là Lý Xuân T bán ma túy cho Hồ Văn M nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Hồ Thị T8 đã có hành vi hoạt động kinh doanh karaoke không có giấy phép kinh doanh theo quy định, để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực quán do mình quản lý. Do vậy, Cơ quan Công an huyện Q đã chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân huyện Q xử phạt vi phạm hành chính đối với Hồ Thị T8 là đúng quy định pháp luật.

Trong vụ án này còn có 7,84g ma túy (Methamphetamine) thu giữ tại vườn cây nhà ông Diên Ngọc M1. Sau khi giám định còn 6,33g (Sáu phẩy ba mươi ba gam) (Methamphetamine). Quá trình điều tra, các đối tượng có mặt tại quán karaoke Tuấn T10 không thừa nhận số ma túy trên là của mình, đồng thời kết quả điều tra chưa đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Vì vậy, Cơ quan Công an huyện Q sẽ tiếp tục tiến hành điều tra, xử lý sau khi đủ căn cứ.

[3] Về vật chứng:

Đối với 01 chai nhựa màu trắng trong suốt loại 350ml trên thân chai nhựa được đục lỗ gắn vòi bằng ống gỗ ở giữa quấn băng dính màu đen, một đầu vót nhọn; 01 chiếc bật lửa ga; 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định, bên trong có 02 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,14 gam (ký hiệu M17.1) và 01 cuộn giấy bạc bị đốt chuyển thành màu xám, trên bề mặt bám dính chất màu đen cùng vỏ gói niêm phong là vật chứng vụ án không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A9 màu xanh, số imei 359933097817687, gắn thẻ sim 0989765737 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho Lý Xuân T.

Đối với số ma túy thu giữ tại vườn cây nhà ông Diên Ngọc M1, sau khi giám định còn 6,33gam. Quá trình điều tra đã xác định được tổng khối lượng 7,84g và kết luận giám định là ma túy (Methamphetamine) đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[4] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lang Thị Huyền T7 là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn giảm án phí là đối tượng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Lý Xuân T.
  • Xử phạt Lý Xuân T 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
  • Căn cứ Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt của hai tội là 09 (Chín) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/5/2023.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Hồ Văn M.
  • Xử phạt Hồ Văn M 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/5/2023; không phạt tiền bổ sung.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Lang Thị Huyền T7.
  • Xử phạt Lang Thị Huyền T7 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/5/2023; không phạt tiền bổ sung.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Hồ Văn T3.
  • Xử phạt Hồ Văn T3 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/5/2023; không phạt tiền bổ sung.
  • - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước (14x9x10)cm bên trong có chứa 01 chai nhựa màu trắng trong suốt loại 350ml; 01 chiếc bật lửa ga (dạng bật lửa khò); 02 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,14g; 01 cuộn giấy bạc bị đốt chuyển thành màu xám, trên bề mặt bám dính chất màu đen cùng vỏ gói niêm phong đã xé; 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định, bên trong có các viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 6,33g cùng vỏ gói niêm phong đã xé.
  • Trả lại cho Lý Xuân T 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A9 màu xanh, số imei 359933097817687, gắn thẻ sim 0989765737.
  • Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận được lập ngày 23/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
  • - Về án phí:
  • Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Lý Xuân T, Hồ Văn M, Hồ Văn T3, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự cho bị cáo Lang Thị Huyền T7.
  • Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan điều tra h. Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự h. Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Quỳnh Minh, xã Quỳnh Lương (để biết);
  • - UBND xã Châu Kim, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An (để biết);
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 174/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lý Xuân T và Đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger