Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2023/HSST

Ngày: 27-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc San Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Rành;
  2. Bà Trương Thị Đạt.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 226/2023/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 226/QĐXXST-HS ngày 14/11/2023, và Quyết định hoãn phiên toà số 48/2023/HSST-QĐ ngày 06/12/2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lý Hồng Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1993 tại Tỉnh Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bốc xếp; Trình độ học vấn: 5/12; Bị cáo là con của ông Lý G, sinh năm 1960 và bà Thị P, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 12/7/2023 đến ngày 21/7/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

  2. Họ và tên: Lý Thạch Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1996 tại Tỉnh Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bốc xếp; Trình độ học vấn: 4/12; Bị cáo là con ông Lý G, sinh năm 1960 và bà Thị P, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 12/7/2023 đến ngày 21/7/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Ông Danh P1, sinh năm:1995; Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố A, Phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Danh V, sinh năm:1993; Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  • Ông Đỗ Bùi Thanh T, sinh năm:1971; Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  • Ông Huỳnh Văn Ú, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố A, phường P, Quận G, Tp .. (vắng mặt)
  • Ông Lê Phước D; Địa chỉ: Thôn A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)

Người làm chứng:

  • Ông Nguyễn Hạnh P2, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố A, phường P, Quận G, Tp .. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 07/7/2023, anh Danh V, Danh P1, Đỗ Bùi Thanh T và Huỳnh Văn Ú ngồi ăn uống tại nhà số A H, khu phố A, phường P, Quận G, sau đó Lý Hồng Q bạn anh V đến ngồi ăn uống chung. Danh P1 lên gác nghỉ còn Q, V, T và Ú tiếp tục ngồi ăn uống. Quyền và Ú tranh luận lớn tiếng. Danh P1 nghe ồn ào nên xuống đuổi Quyền về. Quyền bị P1 đuổi bực tức bỏ về nhà, rồi nảy sinh ý định trả thù Phấn. Quyền điều khiển xe mô tô về nhà trọ số A H, phường P, Quận G tìm em ruột tên Lý Thạch Đ. Quyền nói cho Đ biết vụ việc, rủ Đ đi đánh Phấn trả thù. Động đồng ý. Quyền điều khiển xe mô tô hiệu Gentle (kiểu xe Wave) màu xanh, biển số: 79L3-2300 chở Đ về nhà trọ của Quyền tại địa chỉ I H, phường T, Quận G, lấy 02 con dao tự chế (mã tấu). Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, khi đến trước nhà số A H, khu phố A, phường P, Quận G thấy Danh V, Ú và T còn ngồi trong nhà ăn uống, Q và Đ bước xuống xe, mỗi người cầm 01 con dao tự chế đi vào nhà tìm anh P1. Anh P1 trên gác nghe ồn ào bước xuống cầu thang, Q, Đ cầm con dao tự chế lao đến chân cầu thang chém anh P1, Đ chém hướng từ trên xuống P1 cầm nón bảo hiểm đỡ bị vỡ trúng vào tay phải, đứt gần lìa ngón tay cái bàn tay phải, cầm thanh kim loại chống trả lại. Quyền đứng phía dưới cầu thang cầm 01 con dao tự chế chém đầu gối phải và cổ chân phải anh P1, anh P1 chạy lên trên gác. Quyền, Đ cầm dao lên xe mô tô tẩu thoát. Anh V đưa anh P1 đến Bệnh viện C cấp cứu. Anh Danh V (anh ruột của anh P1) đến Công an phường P trình báo. Công an phường P tiến hành truy tìm mời Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ về làm việc. Tại Công an phường, Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như trên. Ngày 12/7/2023, Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống Danh Phấn số: 4602/KLTTCT-C09B ngày 11/7/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh-Bộ C1 kết luận:

  1. Các dấu hiệu chính qua kết quả giám định:
    • Vết thương hình vòng cung theo chu vi gốc ngón I tay phải, kích thước trung bình.
    • Vết mổ gốc ngón tay I bờ quay tay phải kích thước nhỏ.
    • Vết thương mặt trong gối phải kích thước nhỏ.
    • Vết thương hình vòng cung quanh mắt cá trong chân phải, kích thước trung bình.
    • Vết mổ nằm dọc mặt trong cổ chân phải, kích thước nhỏ.
    • Gãy xương bàn ngón I tay phải.
  2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28.8.2019 của Bộ trưởng Bộ Y, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích như sau:
    • Gãy xương bàn I tay phải: 08%;
    • Vết thương ngón I tay phải: 02%;
    • Vết mổ ngón I tay phải: 01%;
    • Vết thương mặt trong gối phải: 01%;
    • Vết thương mắt cá trong chân phải: 02%;
    • Vết mổ mặt trong cổ chân phải: 01%.

    Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Danh P1 tại thời điểm giám định là: 14%.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống Danh Phấn số: 4605/KLTTCT-C09B ngày 08/8/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh-Bộ C1 kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • Vết thương hình vòng cung theo chu vi gốc ngón I tay phải, bờ ngọn.
    • Vết thương mặt trong gối phải kích thước nhỏ, bờ ngọn.
    • Vết thương hình vòng cung quanh mắt cá trong chân phải, bờ ngọn.
    • Gãy xương bàn ngón I tay phải.
  2. Kết luận:
    • Các thương tích của Danh Phấn có đặc điểm phù hợp do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra. Cả hai con dao gửi giám định đều gây ra được.
  3. Kết luận khác:
    • Các thương tích của Danh P1 không gây nguy hiểm đến tính mạng

* Vật chứng thu giữ:

- Tạm giữ của Lý Hồng Q:

  • 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 65 cm, phần cán bằng gỗ sơn đen bọc đồng dài khoảng 20 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 45 cm, là con dao Quyền dùng chém Danh Phấn; 01 vỏ bọc dao bằng gỗ màu đen dài khoảng 45 cm. Vật chứng nêu trên của Q mua trên mạng xã hội;
  • 01 xe mô tô hiệu Gentle (kiểu xe Wave) màu xanh, biển số: 79L3-2300, số khung: RNDWCH0ND51C04935, số máy: BVDGZS152FMHG00004935. Quyền khai xe trên sử dụng làm phương tiện chở Đ gây thương tích cho anh Danh P1, mua xe của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), khi mua không làm giấy mua bán. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là ông Lê Phước D. Ông D khai xe nêu trên ông đã bán khoảng 20 năm, khi bán không làm giấy tờ mua bán, không nhớ bán cho ai và giá tiền, không quen biết người tên Lý Hồng Q. Do đã bán nên không có yêu cầu gì về xe nêu trên.

- Tạm giữ của Lý Thạch Đ:

  • 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 50 cm, phần cán bằng gỗ màu vàng dài 10 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu nâu dài 40 cm, là con dao Quyền đưa cho Đ sử dụng gây thương tích cho anh P1. Vật chứng nêu trên Quyền mua trên mạng xã hội.

- Tạm giữ của Danh V:

  • 01 nón bảo hiểm màu đen đã bị bể thành nhiều mảnh nhỏ;
  • 01 thanh kim loại rỗng ruột dài khoảng 40 cm, đường kính tròn rộng khoảng 1,5 cm là thanh kim loại P1 dùng phản kháng lại Q và Đ. Anh P1 khai số đồ vật trên sử dụng chống trả lại Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Tại cơ quan điều tra, bị hại Danh P1 yêu cầu các bị cáo Q, Đ bồi thường số tiền là 200.000.000 đồng, gồm tiền viện phí, thuốc, tổn hại sức khỏe, mất sức lao động.
  • Tại phiên toà, bị hại Danh Phấn thay đổi yêu cầu, cụ thể: chỉ yêu cầu các bị cáo Q, Đ liên đới bồi thường số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Các bị cáo Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ đồng ý liên đới bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Bản Cáo trạng số 195/CT-VKSQ7 ngày 26/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2, điểm a, i khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2; điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo Lý Hồng Q, Lý Thạch Động từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; và xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự theo qui định.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:

Phát sinh từ mâu thuẫn nhỏ, Lý Hồng Q cùng đồng phạm Lý Thạch Đ thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm là dao tự chế (mã tấu) gây thương tích cho anh Danh P1. Hậu quả, anh Danh P1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 14% (Mười bốn phần trăm) (theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 4602/KLTTCT-C09B ngày 11/7/2023 của Phân viện V1 tại Thành phố Hồ Chí Minh-Bộ C1 kết luận). Do đó, hành vi các bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ, theo quy định tại điểm đ khoản 2, điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo phạm tội do lỗi cố ý, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của công dân mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội nên cần phải xử lý nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 65 cm, phần cán bằng gỗ sơn đen bọc đồng dài khoảng 20 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 45 cm, là con dao Quyền dùng chém Danh Phấn; 01 vỏ bọc dao bằng gỗ màu đen dài khoảng 45 cm. Vật chứng nêu trên của Q mua trên mạng xã hội. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ;
  • 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 50 cm, phần cán bằng gỗ màu vàng dài 10 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu nâu dài 40 cm, là con dao Quyền đưa cho Đ sử dụng gây thương tích cho anh P1. Vật chứng nêu trên Quyền mua trên mạng xã hội. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ;
  • 01 xe mô tô hiệu Gentle (kiểu xe Wave) màu xanh, biển số: 79L3-2300, số khung: RNDWCH0ND51C04935, số máy: BVDGZS152FMHG00004935. Quyền khai xe trên sử dụng làm phương tiện chở Đ gây thương tích cho anh Danh P1, mua xe của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), khi mua không làm giấy mua bán. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là ông Lê Phước D. Ông D khai xe nêu trên ông đã bán khoảng 20 năm, khi bán không làm giấy tờ mua bán, không nhớ bán cho ai và giá tiền, không quen biết người tên Lý Hồng Q. Do đã bán nên không có yêu cầu gì về xe nêu trên. Nên tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, trường hợp tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước;
  • 01 nón bảo hiểm màu đen đã bị bể thành nhiều mảnh nhỏ: không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ;
  • 01 thanh kim loại rỗng ruột dài khoảng 40 cm, đường kính tròn rộng khoảng 1,5 cm là thanh kim loại P1 dùng phản kháng lại Q và Đ: không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ

[5] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên toà, các bị cáo Q, Đ đồng ý liên đới bồi thường số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng theo yêu cầu của bị hại là ông Danh P1, thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thoả thuận này không trái qui định pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lý Công Q1, Lý Thạch Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích".

  1. Áp dụng điểm đ khoản 2, điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Lý Hồng Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023;

    Xử phạt bị cáo Lý Thạch Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.

  2. Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 65 cm, phần cán bằng gỗ sơn đen bọc đồng dài khoảng 20 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 45 cm; 01 vỏ bọc dao bằng gỗ màu đen dài khoảng 45 cm; 01 con dao tự chế (mã tấu) dài khoảng 50 cm, phần cán bằng gỗ màu vàng dài 10 cm, phần lưỡi bằng kim loại màu nâu dài 40 cm; 01 nón bảo hiểm màu đen đã bị bể thành nhiều mảnh nhỏ; 01 thanh kim loại rỗng ruột dài khoảng 40 cm, đường kính tròn rộng khoảng 1,5 cm.
    • Đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, trường hợp tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với: 01 xe mô tô hiệu Gentle (kiểu xe Wave) màu xanh, biển số: 79L3-2300, số khung: RNDWCH0ND51C04935, số máy: BVDGZS152FMHG00004935.

      (Theo Biên bản V/v giao, nhận vật chứng tài sản số 022 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh)

    • Buộc các bị cáo Lý Hồng Q, Lý Thạch Đ liên đới bồi thường cho anh Danh P1 số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thi hành một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo Q, Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), các bị cáo Q, Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc San H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 174/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lý Công Q1, Lý Thạch Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger