Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/HS-PT

Ngày: 23 - 9 - 2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.

Các Thẩm phán:Ông Mai Văn Hùng Cường

Ông Võ Ngọc Giàu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà – Kiểm sát viên.


Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý 141/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P, Ngô Tấn Vũ E do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Công T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

1. Phạm Thế N; Sinh ngày: 05/11/1984, tại tỉnh An Giang; - Nơi cư trú: Số I H, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; - Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; - Cha: Phạm Ngọc Ầ (đã chết); Mẹ: Trần Thị H; Vợ: Nguyễn Thị Hồng H1 và 02 người con; - Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Nguyễn Thanh P; Sinh ngày: 21/6/1993, tại tỉnh Bến Tre; - Nơi thường trú: 2 N, phường A (nay là phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre; - Chỗ ở hiện nay: F K, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; - Cha: Nguyễn Thanh H2; Mẹ: Nguyễn Thị V; Vợ: Cao Hồng N1 và có 02 người con;- Tiền án, tiền sự: không.- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Ngô Tấn Vũ E; Sinh ngày: 13/8/1985, tại tỉnh Kiên Giang; - Nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; - Chỗ ở hiện nay: Số D M, Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; - Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; - Cha: Ngô Tấn Q ; Mẹ: Dương Thị H3; Vợ: Nguyễn Kiều L (đã ly hôn) và có 01 con;- Tiền án, tiền sự: không.- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Người bào chữa: Luật sư Trần Hoàng Hải P1 và Bùi Văn Đ (Có mặt). Văn phòng Luật sư Trần Vân L1, đoàn Luật sư Thành phố H.Bào chữa cho các bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tấn Vũ E.

* Bị hại: Công ty cổ phần T4 – Chi nhánh V2.Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt);Địa chỉ: B tổ C khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Đào Văn S, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt);Địa chỉ: tổ A khu D ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.2/ Bùi Công T, sinh năm 1995 (có mặt);Địa chỉ: H khu T, phường X, quận B, TP Hà Nội.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Luật sư Trương Thị Minh T1, Công ty L3, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

* Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 10 giờ ngày 11/11/2022, bị cáo Phạm Thế N nghe người nhà tại tỉnh An Giang thông báo là có nhóm người lạ vào nhà bắt cóc cháu Lê Nguyên Phương K, sinh ngày 13/7/2019 (K là con ruột của Lê Phạm K1, sinh năm 1993, cư trú khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, N là cậu ruột của K1) và thông qua camera an ninh thì bị cáo Ngọc t và biết được xe chở nhóm người lạ bắt có cháu K là xe ô tô có biển số 72A-520.90. Sau khi biết thông tin, do nóng lòng nên bị cáo Phạm Thế N cùng với bị cáo Nguyễn Thanh P, bị cáo Ngô Tấn Vũ E, Phạm Hoàng Minh T2, Trần Trung T3, Nguyễn Thị Hồng H1, Phạm Thị Như Q1 bạn gái T3 đi trên xe ô tô 51K- 522.19 đi từ tỉnh Đồng Nai về tỉnh Tiền Giang mục đích là đón tìm xe ô tô biển số 72A-520.90 chở nhóm người bắt cóc cháu K.

Khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, nhóm của bị cáo N về đến trạm thu phí Cao tốc T5 thuộc ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang dừng xe chờ bên ngoài trạm thu phí hướng từ M về TP Hồ Chí Minh thì phát hiện xe ô tô biển số 72A - 520.90 do Đào Văn S điều khiển chở anh Bùi Công T lưu thông qua trạm thu phí hướng về TP Hồ Chí Minh. Khi thấy xe 72A- 520.90, T2 điều khiển xe ô tô 51K- 522.19 chạy ngược chiều trong làn đường qua trạm, ép xe ô tô biển số 72A - 520.90 chạy lùi và dừng tại chỗ dừng khẩn cấp bên trong đường cao tốc, N chạy bộ lại xe 72A- 520.90 tay phải cầm búa đập 02-03 cái vào kính bên phải xe 72A- 520.90, lúc này Nguyễn Thanh P chạy lại dùng cây xẻng đập nhiều cái vào nắp ca bô, đèn xe bên phải, phần đầu xe, kính bên phải xe 72A - 520.90, Ngô Tấn Vũ E cũng chạy lại dùng đoạn cây gỗ đập 02-03 cái vào thân xe 72A - 520.90 làm hư hỏng xe 72A - 520.90. Thấy vậy, anh Đào Văn S chui qua cửa xe bên trái và anh Bùi Công T mở cửa xe bên phải bỏ chạy. Bị cáo N và T2 đuổi theo bắt kịp anh S, T2 dùng tay kẹp cổ ép anh S vào vị trí Ta luy (hành lang bảo vệ đường Cao tốc), bị cáo N dùng tay phải cầm búa đánh nhiều cái vào chân phải của anh S gây thương tích. P và Vũ đ kịp T, P dùng thân xẻng đánh nhiều cái vào lưng của anh T, V1 dùng đoạn cây gỗ đánh vào chân của anh T gây thương tích, sau đó nhóm của N lên xe ra về, sau đó anh S, anh T có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Vật chứng, đồ vật thu giữ gồm: 01 (một) đĩa DVD chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ việc được trích xuất từ camera an ninh của Trạm thu phí Cao tốc T5-Mỹ Thuận ngày 11/11/2022, kèm hồ sơ vụ án; 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp xe ô tô biển số 72A-520.90 (bảng photocopy), kèm hồ sơ vụ án; 01 (một) giấy kiểm định xe ô tô biển 72A-520.90 (bảng photocopy), kèm hồ sơ vụ án; 01 (một) đoạn gỗ tròn đường kính 03cm dài 52cm; 01 (một) đoạn gỗ tròn đường kính 03cm dài 28cm; 01 (một) lưỡi xẻng (dá) bằng kim loại, trên lưỡi xẻng có đoạn gỗ bị gãy dài 28cm; Tiền Việt Nam là 58.350.000 (năm mươi tám triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng là tiền các bị cáo tự nguyện giao nộp bồi thường thiệt hại tài sản; Tiền Việt Nam là 10.000.000 (Mười triệu) đồng là tiền bị cáo N giao nộp khắc phục tiền thuốc cho bị hại Sử.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐG ngày 07/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô con nhãn hiệu Vinfast, biển số 72A-520.90 bị hư hỏng là 28.350.000 (Hai mươi tám triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 390/2022/TgT ngày 20/12/2022 của Trung tâm P2 kết luận về thương tích của Đào Văn S như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thay đổi sắc tố da Al dưới trước cẳng chân phải.
  2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đào Văn S là 01% (Một phần trăm). Trong đó: Vết thay đổi sắc tố da 1/3 dưới trước cẳng chân phải. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm). Do vật tầy gây nên.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 307-2023/KLTTCT-TTPY ngày 28/8/2023 của Trung tâm P2 kết luận về thương tích của Bùi Công T như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • + Sẹo vết thương vùng thắt lưng bên phải.
    • + Vết biến đổi sắc tố da vùng lưng phải khoảng liên sườn 5,6.
    • + Chấn động não.
  2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Bùi Công T là 06% (Sáu phần trăm). Trong đó:
    • + Sẹo vết thương vùng thắt lưng bên phải. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm). Do vật sắc gây nên.
    • + Vết biến đổi sắc tố da vùng lưng phải khoảng liên sườn 5,6. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm). Do vật sắc gây nên.
    • + Chấn động não. Tỷ lệ: 03% (Ba phần trăm). Do vật tày gây nên

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tấn Vũ E phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng khoản 1 điều 178; điều 17; điều 35; điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Thế N 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Bị cáo chấp hành hình phạt tiền ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng). Bị cáo chấp hành hình phạt tiền ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Xử phạt bị cáo Ngô Tấn Vũ E 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng). Bị cáo chấp hành hình phạt tiền ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

- Ngày 21/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Công T kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại vụ án với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét các đơn đề nghị hoãn phiên tòa của luật sư Trương Thị Minh T1 do điều kiện khách quan, không tạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư là vi phạm vi phạm Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tấn Vũ E thống nhất khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung bản án sơ thẩm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Công T có ý kiến bổ sung đơn kháng cáo cho rằng, cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ ai là người chủ mưu, không xem xét hành vi “Gây rối trật tự công công”, “Cố ý gây thương tích” và “Chiếm đoạt điện thoại di động” của anh và anh S là bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

- Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Xét thấy bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tuấn Vũ E1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T là phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến của luật sư bào chữa cho các bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, xác định anh Bùi Công T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Riêng hành vi “Cố ý gây thương tích” đã được Cơ quan điều tra tách bằng vụ án khác.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh T tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt anh T. Việc Tòa án sơ thẩm xét xử vắng mặt anh T là đúng pháp luật. Do đó, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Bùi Công T, Đào Văn S:

  • + Các đương sự Bùi Công T, Đào Văn S và luật sư bảo vệ quyền lợi cho các đương sự có đơn xin hoãn phiên tòa ngày 27/3/2024 được chấp nhận. Thế nhưng, Hội đồng xét xử lại ấn định mở lại phiên tòa ngày 10/4/2024 mà không xem xét điều kiện khách quan mà luật sư theo đơn xin hoãn phiên tòa trước đó và không triệu tập luật sư tham dự phiên tòa là vi phạm tố tụng.
  • + Hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ, gây mất trật tự công cộng và sử dụng vũ lực chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động của anh S, anh T. Thế nhưng, cấp sơ thẩm không xử lý các bị cáo về tội “Cướp tài sản”, “Gây rối trật tự công cộng” và tách hành vị “Cố ý gây thương tích” thành vụ án khác là bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, qua tin nhắn ngày 07/12/2023 từ số điện thoại 0947.666.xxx có đủ căn cứ chứng minh Lê Phạm K1 là người chủ mưu nhưng cấp sơ thẩm không xử lý là bỏ lọt người phạm tội.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bản án sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Bùi Công T ngày 07/5/2014 (BL: 588). Vì thế, theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, đơn kháng cáo ngày 21/5/2024 của anh T (BL: 601, 602, 607) là trong thời hạn quy định.

[2] Quan lời khai nhận của các bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tuấn Vũ E1 đối chiếu lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luật giám định cùng các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Bản án sơ thẩm xét xử các Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tuấn Vũ E1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo khoản 1 điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Bùi Công T, nhận thấy:

[3.1] Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý ngày 17/01/2024 và đến ngày 05/02/2024, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 05/3/2024. Tuy nhiên, do bị hại Trần Tuấn A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Văn S, Bùi Công T có đơn xin hoãn phiên tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa đến ngày 27/3/2024. Trong thời gian hoãn phiên tòa, ngày 20/3/2024 anh Đào Văn S và Bùi Công T đăng ký yêu cầu luật sư và ngày 22/3/2024, luật sư Trương Thị Minh T1 đăng ký tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho anh S và anh T. Ngày 24/3/2024, luật sư T1 có đơn xin hoãn phiên tòa ngày 27/3/2024 đến ngày 29/4/2024 với lý do: “Phải tham gia phiên tòa vụ án hình sự Trương Mỹ L2 và đồng phạm xảy ra tại Tập đoàn V3, Ngân hàng S1”.

Nhận thấy, dù biết không thể tham dự phiên tòa ngày 27/3/2024 nhưng luật sư Trương Thị Minh T1 vẫn nhận yêu cầu của anh T và đăng ký với Tòa án cấp sơ thẩm tham gia tố tụng. Do đó, ý kiến của anh T cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không tạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư, vi phạm Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự là không phù hợp.

Xét sự vắng mặt của anh T và luật sư T1 không vì lý do bất khả kháng hoặc do rở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T và luật sư là không vi phạm tố tụng.

[3.2] Các bị cáo và những đối tượng có liên quan đã cố vi phạm pháp luật, gây náo động trật tự ở nơi công cộng, gây thiệt hại đến sức khỏe và tài sản của người khác. Thế nhưng, có quan điều tra chỉ khởi tố các bị cáo về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”, không xem xét trách nhiệm về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” là thiếu sót.

[3.3] Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của các bị cáo đã được Cơ quan điều tra tách vụ án theo quyết định số 01/QĐ-ĐCSHS ngày 18/12/2023. Xét việc tách vụ án của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khác quan, toàn diện của vụ án, phù hợp quy định của khoản 2 Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố là đúng quy định của Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc tố tụng là vụ việc phải được xem xét toàn diện, đầy đủ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và những đối tượng có liên quan về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là thiếu sót và xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền là nhẹ. Tuy nhiên, do không có kháng cáo, kháng nghị tăng nặng hình phạt nên Hội đồng xét xử không xem xét. Kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Bùi Công T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

2. Tuyên bố các bị cáo Phạm Thế N, Nguyễn Thanh P và Ngô Tấn Vũ E phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1 điều 178; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 35, 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt:

  • - Bị cáo Phạm Thế N 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Nguyễn Thanh P 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng).
  • - Bị cáo Ngô Tấn Vũ E 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Anh Bùi Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Xuân Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 174/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hoảng hơn 10 giờ ngày 11/11/2022, bị cáo Phạm Thế N nghe người nhà tại tỉnh An Giang thông báo là có nhóm người lạ vào nhà bắt cóc cháu Lê Nguyên Phương K, sinh ngày 13/7/2019 (K là con ruột của Lê Phạm K1, sinh năm 1993, cư trú khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, N là cậu ruột của K1) và thông qua camera an ninh thì bị cáo Ngọc t và biết được xe chở nhóm người lạ bắt có cháu K là xe ô tô có biển số 72A-520.90. Sau khi biết thông tin, do nóng lòng nên bị cáo Phạm Thế N cùng với bị cáo Nguyễn Thanh P, bị cáo Ngô Tấn Vũ E, Phạm Hoàng Minh T2, Trần Trung T3, Nguyễn Thị Hồng H1, Phạm Thị Như Q1 bạn gái T3 đi trên xe ô tô 51K- 522.19 đi từ tỉnh Đồng Nai về tỉnh Tiền Giang mục đích là đón tìm xe ô tô biển số 72A-520.90 chở nhóm người bắt cóc cháu K. Khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, nhóm của bị cáo N về đến trạm thu phí Cao tốc T5 thuộc ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang dừng xe chờ bên ngoài trạm thu phí hướng từ M về TP Hồ Chí Minh thì phát hiện xe ô tô biển số 72A -520.90 do Đào Văn S điều khiển chở anh Bùi Công T lưu thông qua trạm thu phí hướng về TP Hồ Chí Minh. Khi thấy xe 72A- 520.90, T2 điều khiển xe ô tô 51K- 522.19 chạy ngược chiều trong làn đường qua trạm, ép xe ô tô biển số 72A - 520.90 chạy lùi và dừng tại chỗ dừng khẩn cấp bên trong đường cao tốc, N chạy bộ lại xe 72A- 520.90 tay phải cầm búa đập 02-03 cái vào kính bên phải xe 72A- 520.90, lúc này Nguyễn Thanh P chạy lại dùng cây xẻng đập nhiều cái vào nắp ca bô, đèn xe bên phải, phần đầu xe, kính bên phải xe 72A - 520.90, Ngô Tấn Vũ E cũng chạy lại dùng đoạn cây gỗ đập 02-03 cái vào thân xe 72A - 520.90 làm hư hỏng xe 72A - 520.90. Thấy vậy, anh Đào Văn S chui qua cửa xe bên trái và anh Bùi Công T mở cửa xe bên phải bỏ chạy. Bị cáo N và T2 đuổi theo bắt kịp anh S, T2 dùng tay kẹp cổ ép anh S vào vị trí Ta luy (hành lang bảo vệ đường Cao tốc), bị cáo N dùng tay phải cầm búa đánh nhiều cái vào chân phải của anh S gây thương tích. P và Vũ đ kịp T, P dùng thân xẻng đánh nhiều cái vào lưng của anh T, V1 dùng đoạn cây gỗ đánh vào chân của anh T gây thương tích, sau đó nhóm của N lên xe ra về, sau đó anh S, anh T có đơn yêu cầu xử lý hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger