Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 174/2024/HS-ST

Ngày: 23-08-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Nguyễn Thị Lý
  2. Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 08 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2024/TLST-HS ngày 03/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2024/QĐXXST-HS ngày 22/07/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QÐST-HS ngày 14/08/2024 đối với bị cáo:

Phạm Quang D; Giới tính: Nam; Sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: F Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà không số, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Quang L và bà Vạn Thị L1; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Thùy D1 (đã ly hôn) và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; Nhân thân: Ngày 20/09/2013 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử 01 năm 06 tháng tù về tội “ trộm cắp tài sản”; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu T, sinh năm 1977; Địa chỉ: 7, Tổ E, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, Phạm Quang D một mình từ nhà tại địa chỉ nhà không số, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh điều khiển xe máy biển số 59Y2-4175 đến khu vực ngã tư A thuộc Quận A để mua ma túy đá về sử dụng. Khi đi lòng vòng khu vực ngã tư A tìm mua ma túy, D gặp một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) và hỏi mua ma túy đá với số tiền là 200.000 đồng thì được người nam thanh niên đồng ý bán và nhận tiền rồi lấy 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá đưa cho D rồi bỏ đi đâu không rõ. Sau khi mua ma túy, D cất giấu vào trong túi áo sơ mi đen ngắn tay bên trái trước ngực và điều khiển xe máy đi về nhà để sử dụng ma túy. Khi D đi xe máy một mình đến trước địa chỉ: Số D đường N, Phường F, quận G, thì bị Tổ tuần tra Công an P, quận G yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác đã phát hiện trong túi áo sơ mi đen bên trái trước ngực của D đang mặc có 01 gói nylon chứa ma túy đá mà D vừa mua được như đã nêu trên, nên tiến hành lập Biên bản tạm giữ, niêm phong gói ma túy trên của D và bắt giữ D đưa về Công an Phường 6, quận G lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiến hành xét nghiệm ma túy, Phạm Quang D có kết quả dương tính với chất ma tuý phù hợp với lời khai có sử dụng ma tuý của D.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Quang D tại địa chỉ nhà không số, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Căn cứ kết luận giám định số 1551/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1474g (không phẩy một bốn bẩy bốn) loại Methamphetamine.

Vật chứng gồm:

  • 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu, đã được niêm phong thành một gói bên ngoài có chữ kí ghi họ tên Phạm Quang D và hình dấu của Công an P, quận G, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 (một) điện thoại không rõ hiệu màu vàng gắn sim số: 0938.417.449 (thu của Phạm Quang D).
  • 01 (một) xe mô tô Honda Vision biển số 59Y2 – 417.51; số khung: RLHJF-3319DY326346; số máy: JF33E-0398592 (đã trả lại cho chủ sỡ hữu là anh Lưu T).

Tại bản cáo trạng số 170/Ctr-VKS-GV, ngày 30/06/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Phạm Quang D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

2

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Phạm Quang D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Quang D và hình dấu Công an phường F, quận G đã được niêm phong, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,1474 gram loại Methaphetamine.
  • Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động có số sim 0938.417.449.
  • Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Phạm Quang D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác.

[4] Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép

3

chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 0,1474 gram loại Methamphetamine. Nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, bị cáo có nhân thân xấu, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Quang D và hình dấu Công an phường F, quận G, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,1474 gram loại MEthamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với chiếc điện thoại di động có số sim 0938417449 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo..
  • Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp điều tra xác minh, nếu xác định được sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phạm Quang D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phạm Quang D 01(một) năm 03(ba) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/01/2024.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Quang D và hình dấu Công an phường 06 quận G đã được niêm phong, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,1474 gram loại Methamphetamine.

- Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động có số sim 0938417449.

Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 82/PNK ngày 22/07/2024 của Công an quận G).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • - VKSND. TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 174/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger