|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2025/HS-PT Ngày 03 - 4 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn H và các bị cáo khác; do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 191/2024/HS-ST ngày 16-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Bị cáo có kháng cáo:
- Phạm Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1982 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức G, sinh năm 1946 và bà Hoàng Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Hà Thu H1, sinh năm 1983 và có 02 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2007); tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giữ ngày 14/02/2024, đến ngày 23/02/2024 được tại ngoại điều tra; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
-
Trương Văn T1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn K, sinh năm 1963 và bà Lương Thị L, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Lê Thị M và có 02 con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020); tiền án: Không, tiền sự: Không;
+ Nhân thân:
- Ngày 28/12/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tuyên xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong ngày 01/9/2012 và đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
- Ngày 18/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tuyên xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong ngày 23/8/2014 và đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt giữ ngày 14/02/2024, đến ngày 23/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị kháng nghị:
- Ngô Văn H2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện nay: Ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Ú, sinh năm 1961 và bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1954; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/01/2020, bị Công an huyện N, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp tiền ngày 21/01/2020; bị cáo bị bắt giữ ngày 14/02/2024, đến ngày 23/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Ngô Thị T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1983 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện nay: Ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn K1 (đã chết) và bà Trần Thị T3 (đã chết); bị cáo sống chung như vợ chồng với Lê Thành Đ, sinh năm 1979 và có 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2001); sống chung như vợ chồng với Tô Văn C có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/10/2022 bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”; nộp phạt ngày 09/05/2024; bị cáo bị bắt giữ ngày 14/02/2024, đến ngày 23/02/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có 08 bị cáo khác trong vụ án không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ ngày 14/02/2024, Phạm Văn H mang theo 16.000.000 đồng, Trương Ngọc B đem theo 10.000.000 đồng, Hoàng Trọng N mang theo 5.000.000 đồng, Lê Thanh N1 mang theo 3.000.000 đồng, Trương Văn T1 đem theo số tiền 2.500.000 đồng, Võ Thị Thanh T4 mang theo 1.500.000 đồng, Ngô Văn H2 đem theo 1.200.000 đồng, Lê Văn T5 đem theo 900.000 đồng, Ngô Thị T2 mang theo 300.000 đồng, Trần Văn T6 mang theo 200.000 đồng, Lê Thị Ngọc G1 (được N nhờ ngồi tụ giúp và cho 200.000 đồng) đến phòng trọ số 3 (không có người ở trọ) do Phạm Chí C1 quản lý nhà trọ cho ông Trần Văn M1 tại khu phố P, thị trấn H để tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Chơi bài cào 3 lá”. C1 cung cấp 02 bộ bài tây (loại 52 lá) và thu xâu mỗi con bạc ngồi tụ số tiền 100.000 đồng/tụ. H là người cầm cái trong suốt quá trình đánh bạc và quy định quân bài A (Át) = 1 điểm, quân bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 tương ứng với số điểm trên lá bài, quân bài hình J, Q, K = 10 điểm. Tổng điểm 03 lá bài lấy hàng đơn vị để tính thắng thua, bài ai lớn điểm hơn thì thắng (lớn nhất là 9 điểm, nhỏ nhất là 0 điểm), đặc biệt ai có 03 quân bài có hình thì thắng 9 điểm. Nếu ai trùng điểm với nhà cái là huề (không ăn, không thua). Mỗi tụ quy định đặt cược dao động từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tỉ lệ thắng thua là 1:1. H, B, N, N1, T4, T1, H2, T5, T2, T6, G1 tham gia chơi nhiều ván bài với nhau cùng một số người khác (không rõ nhân thân) từ 12 giờ đến 15 giờ cùng ngày thì bị Đ1 Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 61.200.000 đồng, 1.100.000 đồng thu tiền xâu của C1, 02 bộ bài tây (loại 52 lá), 01 chiếu mành tre, 01 mền vải màu đỏ có in hoa chiều dài 1,6m x 2m * Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếu mành tre; 01 mền vải màu đỏ có in hoa chiều dài 1,6m x 2m; 02 bộ bài tây 52 lá;
- 01 điện thoại di động hiệu DBEIF màu đen của Phạm Chí C1; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đồng của Võ Thị Thanh T4 dùng vào việc đánh bạc;
- - 62.300.000 đồng dùng vào việc đánh bạc gồm:
- + 61.200.000 đồng trên chiếu bạc.
- + 1.100.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do Phạm Chí C1 giao nộp.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án sơ thẩm số: 191/2024/HS-ST ngày 16-8-2024, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã quyết định:
Căn cứ Điều 326, 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Chí C1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Trương Ngọc B, Hoàng Trọng N, Lê Thanh N1, Trương Văn T1, Võ Thị Thanh T4, Ngô Văn H2, Lê Văn T5, Ngô Thị T2, Trần Văn T6 và Lê Thị Ngọc G1 phạm tội “Đánh bạc”.
1. Hình phạt:
1.1. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 35, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Chí C1 – số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Văn H – 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 23/02/2024.
- Bị cáo Trương Ngọc B – 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 23/02/2024.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt:
- Bị cáo Trương Văn T1 – 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 14/02/2024 đến ngày 23/02/2024.
+ Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt:
- Bị cáo Hoàng Trọng N - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Lê Thanh N1 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Võ Thị Thanh T4 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Ngô Văn H2 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Lê Văn T5 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Trần Văn T6 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Lê Thị Ngọc G1 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
- Bị cáo Ngô Thị T2 - 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án;
Giao bị cáo Hoàng Trọng N cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Trọng N số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Lê Thanh N1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Thanh N1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Võ Thị Thanh T4 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Võ Thị Thanh T4 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Ngô Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Ngô Văn H2 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Lê Văn T5 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn T5 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Trần Văn T6 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T6 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Giao bị cáo Lê Thị Ngọc G1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Ngọc G1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Giao bị cáo Ngô Thị T2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thị T2 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, các bị cáo Phạm Văn H, Trương Văn T1 kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
4. Kháng nghị:
Ngày 09-9-2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định kháng nghị số 349/QĐ-VKS-P7, kháng nghị đối với bản án hình sự sơ thẩm số 191/2024/HS-ST ngày 16-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch theo hướng, sửa bản án sơ thẩm không cho các bị cáo Ngô Văn H2 và Ngô Thị T2 được hưởng án treo.
5. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:
Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về kháng cáo: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, phạm tội nhiều lần, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, không nặng như kháng cáo đã nêu. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về kháng nghị: Bị cáo Ngô Văn H2 và Ngô Thị T2 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, nhân thân bị cáo H2 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo T2 có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo là vi phạm Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên hình phạt nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nhân thân, lý lịch của bị cáo:
Theo quy định tại Điều 7 và Điều 74 của Luật xử lý vi phạm hành chính; bị cáo Ngô Thị T2 bị xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 13-10-2022, tính tới ngày phạm tội mới (14-02-2024) bị cáo không được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính do đến ngày 09-5-2024 bị cáo mới nộp tiền phạt. Do đó, xác định bị cáo T2 có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo T2 có nhân thân bị xử phạt vi phạm hành chính là không đúng.
[2] Về thủ tục tố tụng và áp dụng pháp luật:
- Bản án hình sự sơ thẩm ngày 16-8-2024 (bút lục 467), thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm bao gồm các Hội thẩm bà Hoàng Thị Cát P, ông Võ Phi H3; tuy nhiên, biên bản phiên tòa ngày 16-8-2024 (bút lục 483), thành phần Hội đồng xét xử, Hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn Phi Hồng. Quyết định phân công Hội thẩm giải quyết vụ án số 200/2024/QĐ-TA ngày 24-7-2024 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (bút lục 446) không có tên ông Nguyễn Phi H4. Không đúng theo quy định tại Điều 258 của Bộ luật Tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19-9-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Biên bản nghị án ngày 16-8-2024 (bút lục 464); Hội đồng xét xử thảo luận và áp quyết định áp dụng điểm b khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo bị Phạm Văn H và Trương Bảo N2 bị truy tố về tội “Đánh bạc”; Bản án sơ thẩm áp dụng điều khoản, điểm nêu trên đối với các bị cáo. Sau khi ban hành bản án, ngày 04-9-2024, Hội đồng xét xử sơ thẩm thảo luận và xác định nội dung bản án sơ thẩm có nhầm lẫn nên cần được sửa đổi, bổ sung và ra thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 68/2024/TB-TA ngày 04-9-2024 (bút lục 505), áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung về điều, khoản, điểm mà Hội đồng xét xử đã thảo luận khi nghị án không đúng với bản án sơ thẩm đã áp dụng; vi phạm Điều 256, 260 và 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Do đó, vụ án thuộc trường hợp được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
“Điều 358. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:
a) Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định;”.
b) Có vi phạm nghiêm trọng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;
[3]. Về hình phạt, kháng cáo và kháng nghị:
Bị cáo Ngô Thị T2: Trước khi phạm tội có tiền sự; bị cáo Ngô Văn H2 có nhân thân vừa mới bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” vào ngày 10-01-2020 lại tiếp tục phạm tội; các bị cáo trước đó có nhân thân cùng loại hành vi, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng theo Điều 9 của Bộ luật Hình sự; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo là trái với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
Do hủy bản án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; tuy nhiên, khi xét xử lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần đánh giá và xem xét thận trọng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Chấp nhận một phần quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 191/2024/HS-ST ngày 16-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
2. Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Phương Đông – Nguyễn Đình Trung | Nguyễn Xuân Quang |
10
Bản án số 174/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 174/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy toàn bộ bản án
