TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 174/2024/HS-ST Ngày: 06/12/2024 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU -TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phi tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Ông Huỳnh Thanh Trà.
- Thư ký phi tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phi tòa: Ông Lê Viết Sĩ - Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - 344A Lê Thanh Nghị, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 126/2024/TLST- HS ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 21/11/2024 đối với bị cáo:
Nghiêm Trọng Đ
(Tên gọi khác: Không). Sinh ngày 11 tháng 10 năm 1995 tại Thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn Vĩnh A, xã Hồng S, huyện Mỹ Đ, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Xuân Đ (sinh năm: 1973, sống) và bà Trần Thị L (sinh năm: 1969, sống). Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Nguyễn Thị Thủy T (sinh năm: 1998); 02 người con (sinh năm: 2017 và 2022).
Tiền án, tiền sự: Chưa
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu từ ngày 05/8/2024, hiện có mặt tại pHi tòa.
+ Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H; sinh năm 1966; địa chỉ: Số A đường 2 tháng 9, phường Hòa Cường B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lưu Thị Hi (Tên gọi khác: Không); sinh năm 1995; nơi ĐKTT và chỗ ở: Đội 7, Nội Xá, xã Vạn Thái, huyện Ứng H, Thành phố Hà Nội; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn, tỉnh Bình Định, (có mặt).
- Ông Phùng Văn Q (Tên gọi khác: Không); sinh năm 1995; nơi ĐKNKTT: Thôn An Hòa, xã Hòa Xá, huyện Ứng H, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: 104 Phạm Huy Thông, phường Ngọc K, quận Ba Đ, Thành phố Hà Nội; hiện đang chấp hành án tại Trại giam An Điềm, tỉnh Quảng Nam,(có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Hu (Tên gọi khác: Không); sinh năm 1999 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKTT: Thôn Tân Hợp, xã Thạch Sơn, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 6, tỉnh Nghệ An, (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Hồng T (Tên gọi khác: Không); sinh năm 2003; nơi ĐKNKTT: Thôn Đinh Xuyên, xã Hòa Nam, huyện Ứng H, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Phòng 3308A, tòa S203 Chung cư Vinhome Smart City, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn, tỉnh Bình Định, (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn An Hòa, xã Hòa Xá, huyện Ứng H, Thành phố Hà Nội (ĐT: 0878.650.xxx),(vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thủy T; sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ 7 xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đ, Thành phố Hà Nội (ĐT: 0963.517.xxx),(vắng mặt).
- Bà Vũ Thị H; sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn 1, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đ, Thành phố Hà Nội), (vắng mặt).
- Bà Phùng Thị H; sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm Giếng Dợ, xã Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội), (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pHi tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên từ năm 2022 đến khi bị phát hiện, Nghiêm Trọng Đ, Nguyễn Thị Hu, Phùng Văn Q, Lưu Thị Hi, Nguyễn Thị Hồng T đã bàn bạc, thống nhất và cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc hỗ trợ vay vốn trên mạng Internet, cụ thể:
Ngày 08/12/2022, bà Nguyễn Thị H có nhu cầu vay 50.000.000 đồng, nên đã tìm hiểu trên mạng xã hội và thấy tài khoản Zalo “Trái phiếu Tân Việt - SCB - VTP - An Đông” (đăng ký bằng số điện thoại 0927.721.xxx) có đăng bài hỗ trợ vay vốn đây là tài khoản do Nghiêm Trọng Đ lập ra và sử dụng. Đ tự xưng tên là “Thắng” để nói chuyện với bà Hiền. Đ giả vờ yêu cầu bà Hiền liên hệ với tài khoản Zalo “Vũ Hồng Uyên” (thực tế là do Đ sử dụng), nói dối là phải trả tiền phí vay vốn và bảo hiểm khoản vay nên bà Hiền đã chuyển 02 lần (là 1.500.000 đồng và 3.650.000 đồng). Sau khi bà Hiền chuyển tiền, Đ yêu cầu bà Hiền liên hệ Nguyễn Thị Hu, số điện thoại 0924.098.xxx, để giải ngân (Đ đã bàn bạc trước với Huyền). Huyền tự xưng tên là “Nhi”, giới thiệu là nhân viên ngân hàng Techcombank, Huyền đưa ra nhiều thông tin gian dối như: “trả góp 06 tháng đầu tiên của khoản vay, xác thực mã OTP, chứng minh số tiền có trong tài khoản” và yêu cầu bà Hiền liên hệ Đ chuyển tiền nhiều lần, tổng số tiền là 109.000.000 đồng (ngày 08/12/2022: 9.000.000 đồng, ngày 09/12/2022: 100.000.000 đồng). Ngày 10/12/2022, Huyền tiếp tục yêu cầu bà Hiền chuyển thêm 37.000.000 đồng để “đóng phí bảo lưu hồ sơ vay 3 ngày”. Ngay sau đó, Đ, Huyền đã chặn liên lạc, xóa tài khoản zalo.
Bà Hiền dùng tài khoản ngân hàng ACB số 25793947 chuyển cho Huyền, Đ, tổng số tiền 151.150.000 đồng, thông qua tài khoản Ngân hàng Techcombank số 19039213431018, tên Phùng Thị H, Techcombank số 19038923773019, tên Nguyen Xuan Son, Ngân hàng ACB số 23108847, tên Phạm Phương Thảo. Bà Hiền nhận thấy đã bị lừa nên trình báo Cơ quan Công an.
Ngày 08/12/2022, Đ nói Lưu Thị Hi đưa tài khoản để nhận tiền lừa đảo. Hi đồng ý và nhờ Nguyễn Thị T cho mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền, Thu đưa cho Hi tài khoản Sacombank số [...] tên Vũ Thị H, Hi đưa lại cho Đ. Trong ngày 08/12/2022, Đ sử dụng tài khoản Ngân hàng Techcombank tên Phùng Thị H, chuyển 12.000.000 đồng vào tài khoản Vũ Thị H. Ngày 09/12/2022, Thu sử dụng tài khoản Ngân hàng MB Bank số 86110611091998 của Thu, chuyển vào tài khoản Ngân hàng Tiên Phong Bank số 01370149702 của Hi số tiền 50.000.000 đồng, trong đó có 12.000.000 đồng của Đ, 38.000.000 đồng là tiền buôn bán quần áo giữa Hi với Thu.
Ngày 09/12/2022, Đ tiếp tục nhờ Lưu Thị Hi đưa tài khoản nhận tiền lừa đảo, Hi nói Phùng Văn Q thì Q đưa cho Hi tài khoản Ngân hàng Techcombank, tên Nguyễn Xuân Sơn số 19038923773019, Hi đưa lại cho Đ. Đ cung cấp cho bị hại Hiền để chuyển tổng 100.000.000 đồng. Ngay trong ngày 09.12.2022, Q dùng tài khoản Ngân hàng Techcombank số 19038316165018 của Q, chuyển lại vào tài khoản Ngân hàng MB Bank số 0504199599999 của Hi số tiền 113.780.000 đồng, trong đó có 100.000.000 đồng là tiền của Đ, số tiền còn lại là của Q trả cho Hi vì mượn Hi trước đó.
Ngày 10/12/2022, Đ tiếp tục nhờ Hi đưa tài khoản nhận tiền lừa đảo, Hi đồng ý và nhờ Nguyễn Thị T, Thu đưa tài khoản Ngân hàng VIB số [...], tên Vũ Thị H, Hi đưa lại Đ. Ngày 10/12/2022, Đ dùng tài khoản Ngân hàng ACB số 23108847, tên Phạm Phương Thảo chuyển 37.000.000 đồng vào tài khoản Vũ Thị H. Thu sử dụng tài khoản Vũ Thị H chuyển 37.000.000 đồng đến tài khoản MB Bank số 86110611091998 của Thu. Sau đó, Thu tiếp tục chuyển từ MB Bank của Thu đến Ngân hàng MB Bank số 0504199599999 của Hi số tiền 40.000.000 đồng, trong đó có 37.000.000 đồng là tiền của Đ, số tiền còn lại là tiền buôn bán quần áo giữa Hi với Thu.
Sau khi Hi nhận tiền Đ chiếm đoạt của bà Hiền, ngày 09/12/2022, theo yêu cầu của Đ, Hi đã chuyển vào tài khoản của vợ Đ tại Ngân hàng Techcombank số 19036629263018, tên Nguyễn Thị Thủy T số tiền 102.720.000 đồng. Số tiền còn lại Hi đưa tiền mặt cho Đ vào tối ngày 10/12/2022 tại con đê đầu làng Hi.
Tổng số tiền Đ và Huyền đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H là 151.150.000 đồng, Đ trả công cho Hi 3.725.000 đồng (2.5% số tiền giao dịch), Hi trả công cho Q 500.000 đồng (0.5% số tiền giao dịch); Đ trả công cho Huyền là 44.000.000 đồng. Đ hưởng lợi 103.425.000 đồng.
Quá trình liên hệ, lừa đảo bà Hiền, Huyền có thuê Nguyễn Thị Hồng T giúp sức cho Huyền trong việc dùng các tài khoản mạng xã hội Facebook, Zalo để đăng bài hỗ trợ vay vốn nhằm tìm kiếm khách vay, chiếm đoạt tiền; trả lời tin nhắn của khách, tự xưng là nhân viên ngân hàng, đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền.
Vật chứng thu giữ:
- Phùng Văn Q: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy S10 plus màu xanh, có sim số: 0984.949.955; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 12 pro max, màu xanh, số Imei: 356714114497346, Imei 2: 356714114338896, có số sim: 0989.877.056; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy J7 prime màu gold, Imei: 353415089932787, Imei2: 353416089932785.
- Nguyễn Thị Hu: 01 Ipad 4, màu xanh, có sim số: 0981.937.150, Imei: 356762113637248; 01 ĐTDĐ hiệu iphone 6 màu vàng, không có sim, Imei: 358360067712212; 01 ĐTDĐ hiệu iphone 6 màu xám, có sim số: 0931.781.316, Imei: 359234068360637; 01 ĐTDĐ hiệu nokia 1034 màu đen, không có sim, Imei: 353408094027776; 01 ĐTDĐ hiệu iphone13 promax, màu xanh, có sim số: 0347.142.222, Imei: 357884549496491; 01 cục phát wifi (Dcom 3G) màu trắng, hiệu Olax, model: OlaxU80; 01 thiết bị Dcom 3G màu trắng, hiệu mobily, model E3276S-920; 01 thiết bị Dcom 3G màu trắng, đỏ, hiệu Olax, model Olax U90; 01 thiết bị Dcom 3G màu đen, model W02-LW43, không rõ nhãn hiệu; 01 thiết bị Dcom 3G màu trắng, không rõ nhãn hiệu, model: MF79FS; 01 CPU màu đen VSP, và 01 màn hình máy tính để bàn màu đen hiệu @JHUA.
- Nghiêm Trọng Đ: 100.000.000 đồng (tiền chiếm đoạt).
Quá trình điều tra, Nghiêm Trọng Đ thành khẩn khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như trên. Lời khai nhận của Đ phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Thị H, của Nguyễn Thị Hu, Lưu Thị Hi, Phùng Văn Q và Nguyễn Thị Hồng T; vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, Nghiêm Trọng Đ bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng ra quyết định truy nã và tách vụ án số 05 ngày 15.9.2023. Đến ngày 05.8.2024, Đ đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng đầu thú.
Tại phi tòa:
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- Lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại pHi tòa đã được công bố phù hợp với lời khai của bị cáo. Bị hại là bà Nguyễn Thị H không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng số: 124/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Trọng Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
+ Về trách nhiệm hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 2, khoản 5 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nghiêm Trọng Đ từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
+ Về trách nhiệm dân sự:
Tại phi tòa hôm nay, bị hại Nguyễn Thị H vắng mặt, nhưng quá trình điều tra bà Hiền không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nghiêm Trọng Đ với Nguyễn Thị Hu và Phùng Văn Q về việc bị cáo Đ có trách nhiệm trả lại một phần tiền mà Huyền và Q đã thay Đ bồi thường cho bà Hiền, cụ thể như sau:
- Trả cho Nguyễn Thị Hu: 56.425.000 đồng.
- Trả cho Phùng Văn Q: 43.575.000 đồng.
+ Về xử lý vật chứng:
- Tạm giữ đảm bảo thi hành án số tiền thu giữ của bị cáo Nghiêm Trọng Đ 100.000.000 đồng.
(Bị cáo Đ đã nộp 100.000.000 đồng tiền chiếm đoạt của bị hại. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự quận Hải Châu ngày 18/10/2024 đối với giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9041042.00000 của Công an quận Hải Châu, TP Đà Nẵng ngày 17/10/2024).
- Buộc bị cáo Nghiêm Trọng Đ nộp 3.425.000 đồng tiền chiếm đoạt để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại pHi tòa, không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pHi tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại pHi tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phi tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Nghiêm Trọng Đ, Nguyễn Thị Hu, Lưu Thị Hi, Phùng Văn Q, Nguyễn Thị Hồng T đã bàn bạc và thống nhất thực hiện các hành vi gian dối như lập trang quảng cáo Hỗ trợ cho vay tiền đăng trên mạng internet, giả làm nhân viên ngân hàng, yêu cầu người cần vay tiền chuyển phí vay tiền, phí bảo hiểm, trả trước tiền lãi... để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày 08.12.2022, tại nhà số 288 đường 2 tháng 9, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị H lên mạng tìm người cho vay tiền, khi liên lạc với Đ, Huyền, bà Hiền tưởng là nhân viên ngân hàng thật nên đã chuyển cho Huyền và Đ 151.150.000 đồng.Lưu Thị Hi, Phùng Văn Q đã giúp Huyền và Đ mượn tài khoản ngân hàng của nhiều người để nhận tiền của bà Hiền rồi chuyển lại cho Đ.Đ hưởng lợi 103.425.000 đồng, Huyền hưởng lợi 44.000.000 đồng, Hi hưởng lợi 3.725.000 đồng, Q hưởng lợi 500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nghiêm Trọng Đ đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 124/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng khung hình phạt.
- Ngày 13/8/2024, tại Bản án số 38/2024/HS-ST Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử:
+ Đối với Lưu Thị Hi về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
+ Đối với Nguyễn Thị Hu, Phùng Văn Q, Nguyễn Thị Hồng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
- Ngày 30/5/2024, tại Bản án số 108/2024/HS-ST Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử:
+ Đối với Lưu Thị Hi về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
+ Đối với Nguyễn Thị Hu, Phùng Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, là hành vi bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm. Việc phát hiện, xử lý cũng như đấu tranh đối với loại tội phạm này là việc làm hết sức khó khăn, nhất là hiện nay hành vi lừa đảo của bị cáo thực hiện trên không gian mạng. Bị cáo nhận thức được lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Khung hình phạt bị cáo bị truy tố, xét xử có mức án từ 02 năm đến 07 năm tù, nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân tốt, thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nghiêm Trọng Đ phạm tội hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại pHi tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải thấy được việc làm sai trái của mình, bị cáo Đ đã tự nguyện trả lại một phần tiền mà Huyền và Q đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó khi xem xét mức án, cần cho bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về quyết định hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Đ hình phạt tù có thời hạn, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo Đ.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phi tòa hôm nay bị hại Nguyễn Thị H vắng mặt, nhưng các lời khai của bị hại cũng như các tài liệu thu thập có trong hồ vụ án đã thể hiện bị hại đã nhận lại tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.
Tại phi tòa bị cáo Nghiêm Trọng Đ với Nguyễn Thị Hu và Phùng Văn Q thống nhất thỏa thuận bị cáo Đ có trách nhiệm trả lại một phần tiền mà Huyền và Q đã thay Đ bồi thường cho bà Hiền, cụ thể như sau:
- Trả cho Nguyễn Thị Hu: 56.425.000 đồng.
- Trả cho Phùng Văn Q: 43.575.000 đồng.
Xét thấy bị cáo Đ với Huyền và Q đã tự nguyện thỏa thuận, không trái pháp luật, phù hợp với Điều 46 của Bộ luật hình sự và Điều 587 của Bộ luật dân sự nên ghi nhận sự tự nguyện này.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[10] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xét thấy:
- Tạm giữ đảm bảo thi hành án số tiền thu giữ của bị cáo Nghiêm Trọng Đ 100.000.000 đồng.
(Bị cáo Đ đã nộp 100.000.000 đồng tiền chiếm đoạt của bị hại. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự quận Hải Châu ngày 18/10/2024 đối với giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9041042.00000 của Công an quận Hải Châu, TP Đà Nẵng ngày 17/10/2024).
[11] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
- Bị cáo Nghiêm Trọng Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1.1. Căn cứ: Điểm a,c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nghiêm Trọng Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/8/2024.
1.2 .Căn cứ khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo Nghiêm Trọng Đ là 20.000.000 đồng;
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật hình sự và Điều 587 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nghiêm Trong Đ có trách nhiệm trả cho:
- Nguyễn Thị Hu: 56.425.000 đồng.
- Phùng Văn Q: 43.575.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Truy thu số tiền 3.425.000 đồng bị cáo Đ chiếm đoạt để sung ngân sách nhà nước:
- Tạm giữ đảm bảo thi hành án số tiền thu giữ của bị cáo Nghiêm Trọng Đ 100.000.000 đồng.
(Bị cáo Đ đã nộp 100.000.000 đồng tiền chiếm đoạt của bị hại. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự quận Hải Châu ngày 18/10/2024 đối với giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9041042.00000 của Công an quận Hải Châu, TP Đà Nẵng ngày 17/10/2024).
4. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nghiêm Trọng Đ phải chịu là 200.000 đồng.
4.1 Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Nghiêm Trọng Đ phải chịu là 5.000.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại pHi tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại pHi tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHI TÒA (Đã ký) PHẠM THỊ HỒNG LOAN |
9
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nghiêm Trọng Đ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà H
