Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-11-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
  2. Ông Phan Văn Cường.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 472/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 132/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/11/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/8/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L tự nguyện sống chung, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 46/2016, ngày 21/04/2016. Việc kết hôn giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Chị H và anh L đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả nên anh, chị đã ly thân từ tháng 5 năm 2024. Nay, chị H xác định tình cảm với anh L không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh L. Hiện nay, chị H đang làm tại công ty may mặc với tổng mức thu nhập (bao gồm tăng ca) là 18.000.000 đồng/tháng. Riêng anh L làm nghề sửa xe với mức thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng.

* Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 28/7/2016. Hiện nay các con chung đang ở với chị H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L cấp dưỡng nuôi con chung 6.000.000 đồng/02con/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

* Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hình thức niêm yết công khai và yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Nguyễn Thị H nhưng anh L không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án triệu tập anh L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 25/10/2024 nhưng anh L vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện anh L đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị H.

- Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường T và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Nguyễn Thị H không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường T tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường T, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh, chị thì Hội liên hiệp phụ nữ phường T không biết được.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L đã có những mâu thuẫn trầm trọng. Sau khi chị H nộp đơn ly hôn, Tòa án đã triệu tập anh L đến Tòa nhiều lần nhưng anh L không đến, chứng tỏ anh L cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị H. Do vậy, việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh L là có cơ sở; Về con chung: Các con đang sống cùng chị H và đều có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đương sự không tranh chấp nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/10/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46/2016 do Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/4/2016 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị H thì thực tế cuộc sống vợ chồng anh, chị có nhiều mâu thuẫn trầm trọng từ đầu năm 2024. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H và anh L đã ly thân từ tháng 5 năm 2024. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh L đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh L không đến tham gia hòa giải, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và chính anh L cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn. Vì vậy, chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 28/7/2016. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.

Tòa án đã triệu tập anh L để trình bày ý kiến về con chung nhưng anh L vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Xét, cháu Nguyễn Ngọc Thiên K và Nguyễn Hoàng Thiên P hiện đang sinh sống ổn định cùng chị H. Ngoài ra, chị H có công việc và thu nhập ổn định, hơn nữa hai cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, cần giao cháu K và cháu P cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo được quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của các cháu và quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với số tiền 6.000.000 đồng/tháng/02 con. Xét, nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cả cha lẫn mẹ, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình: “cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Sau khi xem xét nhu cầu thiết yếu của con chung ở độ tuổi chưa thành niên. Xét thấy, chị H yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi hai con chung với tổng số tiền 6.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.

[3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn; anh Nguyễn Hoàng L phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 và Đ a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5, Đ a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng L.

1.1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L [Giấy chứng nhận kết hôn số 46/2016 do Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/4/2016].

1.2/ Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Ngọc Thiên P1, sinh ngày 28/07/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hoàng L đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

1.3/ Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Hoàng L phải cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng)/tháng. Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung Nguyễn Ngọc Thiên K và Nguyễn Ngọc Thiên P1 đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.4/ Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001595 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Anh Nguyễn Hoàng L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

3/ Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP. Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 174/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger