Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Xuân Đào.

Bà Trương Thị Kim Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Thiện N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; Nơi sinh: tỉnh Hậu Giang; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc; kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thiên V, sinh năm 1949 (chết) và bà Đoàn Thị Kim H, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ tên La Thị H1, sinh năm 1988 và 01 người con sinh năm 2021; Tiền án; Tiền sự: không.

Trần Thiện N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ cho đến nay (bị cáo có mặt).

2. Đinh Xuân Q, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2002; Nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số B L, phường A, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn L, sinh năm 1978 và bà Trần Thị T, sinh năm 1977; Bị cáo không có vợ con; Tiền án; Tiền sự: không có.

Nhân thân: Tháng 11 năm 2020, Đinh Xuân Q bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cai nghiện bắt buộc 17 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đắk Nông, đến ngày 14/3/2022, Q chấp hành xong thời gian bắt buộc cai nghiện.

Đinh Xuân Q bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 12 năm 2023, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An cho đến nay (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Duy N1, sinh năm 2007 (vắng mặt).
    Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Phi Đ, sinh năm 1984.
    Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  2. Nguyễn Quốc D, sinh năm 2007 (vắng mặt).
    Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1975 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Trịnh Minh K, sinh năm 2008 (vắng mặt).
    Người đại diện theo pháp luật: Trịnh Minh Q1, sinh năm 1982 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  4. Trần Hữu T1, sinh năm 2008 (vắng mặt).
    Người đại diện theo pháp luật: Trần Anh H2 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  5. Nguyễn Đăng K1, sinh năm 2003 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  6. Nguyễn Thị Ngọc X, sinh năm 2006 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  7. Nguyễn Thị Diễm K2, sinh năm 2005 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
  8. Lê Thanh T2, sinh năm 1994 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  9. Nguyễn Minh N2, sinh năm 2004 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp R, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  10. Bùi Vĩnh T3, sinh năm 2001 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh
  11. Lư Trung T4, sinh năm 1997 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  12. Trầm Thị Huế P, sinh năm 1971 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số 1, đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  13. Trần Phạm Thanh T5, sinh năm 2005 (vắng mặt).
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  14. Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 2003 (vắng mặt).
    Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  15. Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2003 (vắng mặt).
    Địa chỉ: B H, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
  16. Bùi Thanh T6 sinh năm 2006 (vắng mặt).
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  17. Trần Thiện T7, sinh năm 1985 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khu phố E, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
  18. Trần Thị Thanh T8, sinh năm 1973 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số A L, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người tham gia tố tụng khác: Người chứng kiến:

  1. Phan Văn D1, sinh năm 1956 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  2. Nguyễn Thành T9, sinh năm 1966 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Nguyễn Văn H3, sinh năm 1964 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ấp G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  4. Nguyễn Văn T10, sinh năm 1965 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7 năm 2022, Trần Thiện N đến làm nhân viên phục vụ tại Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368, thuộc Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Quá trình làm nhân viên phục vụ Nam phát hiện khách vào quán có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy trong các phòng hát nên đến khoảng tháng 10 năm 2023, N nảy sinh ý định tìm mua chất ma túy về bán lại cho khách để thu lợi lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi khách đến hát có nhu cầu mua chất ma túy loại Ketamine hoặc chất ma túy dạng Methamphetamine (thuốc lắc) để sử dụng thì N thông qua mạng xã hội, mua chất ma túy về bán lại cho khách.

Khoảng 22 giờ ngày 29/12/2023, Trần Thiện N đang ở tại Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368 thì có Nguyễn Duy N1, sinh ngày 23/11/2007, nơi cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Trịnh Minh K, sinh ngày 09/8/2008, nơi cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nguyễn Quốc D, sinh ngày 25/6/2007, nơi cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và Trần Hữu T1, sinh ngày 10/3/2008, nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đến thuê phòng để hát karaoke. Lúc này, Đinh Xuân Q nhân viên phục vụ của quán, dẫn N1, K, D, T1 vào phòng số 7. Sau khi vào phòng, Trần Hữu T1 hỏi Đinh Xuân Q mua 01 chấm chất ma túy loại Ketamine và 02 viên chất ma túy dạng Methamphetamine (thuốc lắc). Đinh Xuân Q đồng ý và đi ra nói Trần Thiện N có khách trong phòng số 7 cần mua 01 chấm ma túy loại Ketamine và 02 viên chất ma túy dạng Methamphetamine (thuốc lắc). Trần Thiện N đồng ý và liên hệ mua số ma túy nêu trên của một nam thanh niên (không xác định nhân thân lai lịch) với giá 1.300.000 đồng. Sau khi mua được chất ma túy, Trần Thiện N đưa ma túy cho Đinh Xuân Q đem vào phòng hát số 7 bán cho khách. Khi vào đến phòng hát số G, Đinh Xuân Q đưa ma túy cho Nguyễn Duy N1 và báo giá bán là 1.600.000 đồng. Lúc này, Nguyễn Duy N1 kêu Đinh Xuân Q lấy đĩa sứ và thẻ nhựa để làm dụng cụ sử dụng chất ma túy. Đinh Xuân Q đồng ý nên đi ra ngoài lấy 01 đĩa sứ và 01 thẻ nhựa. Trong lúc Đinh Xuân Q ra ngoài, Nguyễn Duy N1, Trịnh Minh K, Nguyễn Quốc D và Trần Hữu T1 góp mỗi người 400.000 đồng và đưa tiền cho Nguyễn Duy N1. Khoảng 2 phút sau, Đinh Xuân Q cầm đĩa sứ và thẻ nhựa đưa vào cho Nguyễn Duy N1. Lúc này, Nguyễn Duy N1 trả cho Đinh Xuân Q tiền mua ma túy 1.600.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Đinh Xuân Q đi ra ngoài đưa lại cho Trần Thiện N. Nguyễn Duy N1, Trịnh Minh K, Nguyễn Quốc D và Trần Hữu T1 ở trong phòng số 7 sử dụng mỗi người một nửa viên ma túy loại thuốc lắc và sử dụng ma túy loại Ketamine.

Đến khoảng 23 giờ ngày 29/11/2023, Lư Trung T4, sinh năm 1997, nơi cư trú: Khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau là khách ở phòng hát số 4 gọi điện thoại cho Trần Thiện N hỏi mua nửa hộp 5 ma túy dạng Ketamine và 5 viên chất ma túy dạng Methamphetamine (thuốc lắc), Trần Thiện N đồng ý và báo giá bán chất ma túy là 4.000.000 đồng. Trần Thiện N tiếp tục liên hệ mua chất ma túy của người nam thanh niên đã mua ma túy trước đó đến bán cho Trần Thiện N nửa hộp 5 ma túy dạng Ketamine và 5 viên thuốc lắc với giá 3.550.000 đồng. Sau khi mua được chất ma túy, Trần Thiện N đem chất ma túy vào phòng số 4 chuẩn bị bán cho T4 thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang.

Công an huyện Đ, tỉnh Long An tiến hành kiểm tra phát hiện trong phòng số 6 có 06 người khách gồm: Nguyễn Minh N2, sinh năm 2004, nơi cư trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Bùi Vĩnh T3, sinh năm 2001, nơi cư trú: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nguyễn Thị Ngọc X, sinh ngày 31/01/2006, nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nguyễn Thị Diễm K2, sinh ngày 01/5/2005, nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nguyễn Đăng K1, sinh năm 2001, nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An và Lê Thanh T2, sinh năm 1994, nơi cư trú: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đang sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong phòng số 7 có 4 người khách gồm: Nguyễn Duy N1, Trịnh Minh K, Nguyễn Quốc D và Trần Hữu T1 đang sử dụng trái phép chất ma túy. Công an tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng đưa về trụ sở Công an điều tra làm rõ.

Vật chứng tạm giữ gồm:

Tại phòng số 4:

  • + 01 túi nylon rãnh khép viền đỏ kích thước 7 x 4,5 cm, bên trong chứa 5 viên nén màu vàng nghi là ma túy dạng thuốc lắc;
  • + 01 túi nylon rãnh khép viền xanh kích thước 3 x 3,5 cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng khay;
  • + 01 cái đĩa sứ đường kính 23cm;
  • + 01 thẻ nhựa hình chữ nhật màu đỏ kích thước 5,5 x 8,5 cm.

Tại phòng số 6:

  • + 01 đĩa sứ đường kính 23cm bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy dạng Ketamine.
  • + 01 thẻ nhựa kích thước 8,5 x 5 cm;
  • + 01 ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
  • + 01 bật lửa kích thước 7,5 x 2,5 cm.

Tại phòng số 7:

  • + 01 đĩa sứ đường kính 23cm bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy dạng Ketamine.
  • + Chất bột màu trắng nghi là ma túy dạng khay thu trên đĩa sứ;
  • + 02 túi ny lon kích thước 3,5 x 4 cm;
  • + 01 thẻ nhựa kích thước 8,5 x 5 cm;
  • + 01 ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cố định bằng vỏ điếu thuốc lá.

Số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo Trần Thiện N và số tiền 100.000 đồng của bị cáo Đinh Xuân Q.

Ngoài ra các bị cáo giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại A02, màu bạc, sim số 0907950438; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 5, màu đen.

Quá trình điều tra, N tự khai nhận từ tháng 11 năm 2023 đến ngày 28/12/2023, Trần Thiện N đã mua bán trái phép chất ma túy cho khách tại các phòng của Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368 được 20 lần, thu lợi bất chính được số tiền 2.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 1396/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh L kết luận:

  • Túi niêm phong mã số NS3A 099317: Chất bột màu trắng đựng trong túi nylon có rãnh khép viền màu xanh lá được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0182 gam, loại: Ketamine.
  • Túi niêm phong mã số NS3A 099320: Chất bột màu trắng đựng trong gói giấy màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4838 gam, loại: Ketamine.
  • Kèm theo kết luận giám định: Không có.
  • Bản ảnh được lưu tại Phòng K3, Công an tỉnh L
  • H4 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu đã phục vụ hết cho công tác giám định (túi niêm phong mã số NS3A 099317); mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,3228 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099320) tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được đóng gói niêm phong số 1396.

Tại Kết luận giám định số 1397/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh L kết luận:

  • Túi niêm phong mã số NS3A 099398: Chất bột màu trắng đựng trong 01 (một) tờ giấy khổ A4, màu trắng, gấp lại, được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1371 gam, loại: Ketamine.
  • Kèm theo kết luận giám định: Không có.
  • Bản ảnh gồm 08 ảnh được lưu tại Phòng K3, Công an tỉnh L.
  • H4 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0854 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1397.

Tại bản kết luận giám định số 1398/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh L kết luận:

  • Túi niêm phong mã số NS3A 099316: tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền màu xanh được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,0157 gam, loại: Ketamine.
  • Túi niêm phong mã số NS3A 099338: 05 (năm) viên nén dạng hình vuông, màu vàng, đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền màu đỏ được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 1,9882 gam, loại: Methamphetamine.
  • Kèm theo kết luận giám định: Không có.
  • Bản ảnh gồm 12 ảnh được lưu tại Phòng K3, Công an tỉnh L
  • H4 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,7851 gam (túi niêm phong mã số NS3A099316); 1,1850 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099338) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1398.

Tại bản cáo trạng số: 172/CT-VKSĐH ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố:

Bị cáo Trần Thiện N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đinh Xuân Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thiện N và Đinh Xuân Q hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra, đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

1. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thiện N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c, e khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt Trần Thiện N mức hình phạt từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.

2. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c, e khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt Đinh Xuân Q mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt Đinh Xuân Q mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Đinh Xuân Q chấp hành hình phạt chung của hai tội. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.

- Hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,3228 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099320) tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được đóng gói niêm phong số 1396; Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0854 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1397; Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,7851 gam (túi niêm phong mã số NS3A099316); 1,1850 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099338) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1398; 03 (ba) cái đĩa sứ đường kính 23cm; 03 (ba) thẻ nhựa hình chữ nhật màu đỏ kích thước 5,5 x 8,5 cm; 02 (hai) bật lửa kích thước 7,5 x 2,5 cm; 02 (hai) túi ny lon kích thước 3,5 x 4 cm; sim số 0907950438.

Đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cố định bằng vỏ điếu thuốc lá.

Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại A02, màu bạc.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 5, màu đen. Đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Thanh T8, đề nghị Hội đồng xét xử hoàn trả lại cho bà T8.

Đối với số tiền 2.100.000 đồng: đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Về phần biện pháp tư pháp: Đề nghị buộc bị cáo Trần Thiện N nộp số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với Nguyễn Minh N2; Bùi Vĩnh T3; Nguyễn Thị Ngọc X; Nguyễn Thị Diễm K2; Nguyễn Đăng K1; Lê Thanh T2; Nguyễn Duy N1; Trịnh Minh K; Nguyễn Quốc D và Trần Hữu T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị Cơ quan chức năng ra quyết định xử phạt hành chính, nên đề nghị không xem xét.

Đối với người thanh niên bán chất ma túy cho Trần Thiện N, do không xác định nhân thân, lai lịch, chỉ qua lời khai của Trần Thiện N nên không đủ căn cứ để xử lý, nên đề nghị không xem xét.

Đối với Trần Thị Huế P1 chủ Cơ sở Karaoke 368 không biết việc N, Q mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại các phòng của quán ngày 29/12/2023 nên hành vi của P1 không cấu thành tội danh có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ban hành văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P1, nên đề nghị không xem xét.

Đối với Lư Trung T4 là người chuẩn bị mua chất ma túy của N để sử dụng. Tuy nhiên, T4 chưa đưa tiền, chưa nhận được ma túy của N nên hành vi của T4 không cấu thành tội danh có liên quan, nên đề nghị không xem xét.

Đối với Trần Thị Thanh T8 có hành vi cho Đinh Xuân Q mượn điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 5, màu đen để Q sử dụng liên lạc hàng ngày. Tuy nhiên, T8 không biết việc Q sử dụng điện thoại di động nêu trên để liên lạc với N trong việc mua bán trái phép chất ma túy nên hành vi của T8 không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với việc Trần Thiện N khai nhận ngày 29/12/2023 bị cáo là người mang đĩa sứ và thẻ nhựa vào phòng số 4 của quán K4. Tuy nhiên, khách tại phòng số 4 chưa sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của Trần Thiện N không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với việc Nguyễn Thị Kim Y, Trần Phạm Thảo T11, Nguyễn Ngọc Quỳnh A khai nhận Trần Thiện T7, sinh năm 1985, nơi cư trú: Đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi cấp dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy cho khách tại các phòng hát của quán K4 khi có nhu cầu. Tuy nhiên, chỉ có lời khai duy nhất của Y, T11 và Quỳnh A ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý T7 về tội danh có liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Thiện N và Đinh Xuân Q trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào ngày 29 tháng 12 năm 2023, phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng với kết luận giám định số: 1396/2024/KLGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024; số:1397/2024/KLGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024; số: 1398/2024/KLGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Phòng K3, Công an tỉnh L, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

Thấy rằng: Khoảng 22 giờ ngày 29/12/2023, tại phòng số 7 Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368 thuộc Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, Đinh Xuân Q có hành vi giúp Trần Thiện N bán trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1371 gam, loại Ketamine cho Nguyễn Duy N1 (có độ tuổi 15 tuổi 4 tháng 20 ngày) và Trần Hữu T1 (có độ tuổi 15 tuổi 9 tháng 19 ngày) với số tiền 1.600.000 đồng. Đến 23 giờ cùng ngày, Trần Thiện N tiếp tục bán trái chất ma túy cho Lư Trung T4 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Đinh Xuân Q, ngoài hành vi đồng phạm với Trần Thiện N trong việc mua bán trái phép chất ma túy, còn có hành vi cung cấp đĩa sứ và thẻ nhựa cho N1, K, D, T4 làm dụng cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 7 Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368 thu lợi bất chính số tiền 100.000 đồng. Đến ngày 30/12/2023, Q đến Công an huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngoài ra, Trần Thiện N tự khai nhận từ tháng 11 năm 2023 đến ngày 28/12/2023, Trần Thiện N đã mua bán trái phép chất ma túy cho khách tại các phòng của Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368 được 20 lần, thu lợi bất chính được số tiền 2.000.000 đồng.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

  • - Bị cáo Trần Thiện N, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Đinh Xuân Q, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Trần Thiện N và Đinh Xuân Q với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của các bị cáo Trần Thiện N và Đinh Xuân Q là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân các bị cáo. Các bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào, nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy không có sự câu kết chặt chẽ với nhau. Bị cáo Đinh Xuân Q phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo N mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo Đinh Xuân Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không có đồng phạm.

[5]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Thiện N và Đinh Xuân Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Thiện N không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự thú về hành vi phạm tội trước (bị cáo khai nhận từ tháng 11 năm 2023 đến ngày 28/12/2023, bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy cho khách tại các phòng của Cơ sở kinh doanh karaoke biển hiệu 368 được 20 lần). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Bị cáo Đinh Xuân Q không có tiền án. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội, ngoài ra ông ngoại của bị cáo là ông Trần Trí C được Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Từ phân tích trên, xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về xử lý tang vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,3228 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099320) tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được đóng gói niêm phong số 1396; Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0854 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1397; Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,7851 gam (túi niêm phong mã số NS3A099316); 1,1850 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099338) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1398; 03 (ba) cái đĩa sứ đường kính 23cm; 03 (ba) thẻ nhựa hình chữ nhật màu đỏ kích thước 5,5 x 8,5 cm; 02 (hai) bật lửa kích thước 7,5 x 2,5 cm; 02 (hai) túi ny lon kích thước 3,5 x 4 cm; sim số 0907950438: Đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cố định bằng vỏ điếu thuốc lá: Đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại A02, màu bạc: Đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 5, màu đen. Đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Thanh T8, nên hoàn trả lại cho bà T8 là phù hợp.

Đối với số tiền 2.100.000 đồng: đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Về phần biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Trần Thiện N nộp số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy sung vào Ngân sách nhà nước.

[7]. Đối với Nguyễn Minh N2; Bùi Vĩnh T3; Nguyễn Thị Ngọc X; Nguyễn Thị Diễm K2; Nguyễn Đăng K1; Lê Thanh T2; Nguyễn Duy N1; Trịnh Minh K; Nguyễn Quốc D và Trần Hữu T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị Cơ quan chức năng ra quyết định xử phạt hành chính, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người thanh niên bán chất ma túy cho Trần Thiện N, do không xác định nhân thân, lai lịch, chỉ qua lời khai của Trần Thiện N nên không đủ căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trần Thị Huế P1 chủ Cơ sở Karaoke 368 không biết việc N, Q mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại các phòng của quán ngày 29/12/2023 nên hành vi của P1 không cấu thành tội danh có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ban hành văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P1 là phù hợp.

Đối với Lư Trung T4 là người chuẩn bị mua chất ma túy của N để sử dụng. Tuy nhiên, T4 chưa đưa tiền, chưa nhận được ma túy của N nên hành vi của T4 không cấu thành tội danh có liên quan, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trần Thị Thanh T8 có hành vi cho Đinh Xuân Q mượn điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 5, màu đen để Q sử dụng liên lạc hàng ngày. Tuy nhiên, T8 không biết việc Q sử dụng điện thoại di động nêu trên để liên lạc với N trong việc mua bán trái phép chất ma túy nên hành vi của T8 không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với việc Trần Thiện N khai nhận ngày 29/12/2023 bị can là người mang đĩa sứ và thẻ nhựa vào phòng số 4 của quán K4. Tuy nhiên, khách tại phòng số 4 chưa sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của Trần Thiện N không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với việc Nguyễn Thị Kim Y, Trần Phạm Thảo T11, Nguyễn Ngọc Quỳnh A khai nhận Trần Thiện T7, sinh năm 1985, nơi cư trú: Đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi cấp dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy cho khách tại các phòng hát của quán K4 khi có nhu cầu. Tuy nhiên, chỉ có lời khai duy nhất của Y, T11 và Quỳnh A ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý T7 về tội danh có liên quan.

[8]. Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nên không xem xét.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thiện N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b, c, e khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thiện N 10 ( M) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2023.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Thiện N 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 11 năm 2024) để đảm bảo thi hành án.

2. Căn cứ điểm c, e khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân Q 07 (bảy) năm tù.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân Q 07 (bảy) năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Đinh Xuân Q chấp hành chung hai tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 12 năm 2023.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Đinh Xuân Q 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 11 năm 2024) để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý tang vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy các tang vật gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,3228 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099320) tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được đóng gói niêm phong số 1396; Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0854 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1397; Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,7851 gam (túi niêm phong mã số NS3A099316); 1,1850 gam (túi niêm phong mã số NS3A 099338) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1398; 03 (ba) cái đĩa sứ đường kính 23cm; 03 (ba) thẻ nhựa hình chữ nhật màu đỏ kích thước 5,5 x 8,5 cm; 02 (hai) bật lửa kích thước 7,5 x 2,5 cm; 02 (hai) túi ny lon kích thước 3,5 x 4 cm; sim số 0907950438.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cố định bằng vỏ điếu thuốc lá, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại A02, màu bạc và số tiền 2.100.000 đồng.

Hoàn trả cho bà Trần Thị Thanh T8: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 5, màu đen.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên lai thu số 0003126 ngày ngày 23 tháng 8 năm 2024, Biên bản giao nhận vật chứng số 126-23/8/2024 ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Biên bản giao nhận vật chứng số 23-06/11/2024 ngày 06 tháng 11 năm 2024.

Buộc bị cáo Trần Thiện N nộp số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc các bị cáo Trần Thiện N và Đinh Xuân Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An.
  • - Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Công an huyện Đức Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Bình An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 174/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thiện N và đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma túy, điểm b,c,e khoản 2 Điều 251"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger