Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/HS-ST

Ngày: 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bá Quyền
  2. Ông Hà Văn Tôn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị P (tên gọi khác: không có), sinh ngày 20 tháng 11 năm 1973 tại Thái Nguyên; nơi thường trú: tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; có chồng là Nguyễn Đức B và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1967; địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (đã chết).

Người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Văn Đ: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1969 (vợ của bị hại); ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1991 (con trai của bị hại); ông Nguyễn Văn G, sinh năm: 1993 (con trai của bị hại); đều có địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Bà Lê Thị H, ông Nguyễn Văn G ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1 tham gia tố tụng (theo Giấy ủy quyền lập ngày 03 tháng 5 năm 2023). Bà H, ông G, ông Đ1 đều vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Quyết T1, sinh năm: 1995; địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1998; địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 25/4/2024, Nguyễn Thị P đi ra ruộng lúa gần nhà tại tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để thăm ruộng thì thấy lúa bị chuột cắn nhiều, nhận thấy ruộng lúa ở khu vực có ít người qua lại nên P nảy sinh ý định chăng dây điện ra khu vực ruộng để đánh chuột. Đến khoảng 17 giờ chiều cùng ngày, P lấy dây thép li của gia đình để chăng xung quanh bờ ruộng lúa bằng cách lấy các cọc tre khô dài khoảng 40 cm cắm xung quanh bờ ruộng lúa và kéo dây thép li quấn vào từng cọc tre chăng kín bờ ruộng sao cho dây thép cao cách khoảng 7 cm so với mặt nước của ruộng. Sau khi chăng xong dây thép, P vào nhà lấy đoạn dây điện dài khoảng 20 m luồn qua ô thoáng chuồng lợn kéo đến bờ rào gần khu vực ruộng lúa rồi cắm phích điện vào ổ điện trong chuồng lợn. Sau đó, P ra khu vực ruộng lúa dùng bút điện kiểm tra ổ cắm điện xem pha nào là pha lửa và nối thêm một đoạn dây điện dài khoảng 4 m (hai đầu dây đều hở lõi đồng và xoắn vào nhau tạo thành một dây dẫn điện) luồn qua ô thoát nước của bờ rào, một đầu P móc nối với dây thép li, đầu còn lại cắm vào pha lửa của ổ điện. Sau khi kết nối điện xong, P ngồi ở bậc lên xuống cạnh đường C - Thái Nguyên và trông ruộng lúa để nếu có người đi lại vào khu vực này thì P sẽ cảnh báo. Đến khoảng gần 19 giờ cùng ngày, do P đau bụng nên đã về nhà để đi vệ sinh. Lúc này, ông Nguyễn Văn Đ từ nhà mang con lợn chết đi qua khu vực ruộng lúa của nhà P để vứt thì bị vướng vào dây điện khiến ông Đ bị điện giật ngã ra gần bờ ruộng và tử vong. Đến ngày 26/4/2024, Nguyễn Thị P đã đến Công an phường T, thành phố P tự thú và khai báo toàn bộ nội dung diễn biến sự việc.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 631/KLGĐTT-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967, nơi đăng ký HKTT phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên bị điện giật gây chảy máu cơ tim, chảy máu phổi, suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp dẫn đến chết”.

Tại bản Kết luận giám định mô bệnh học số 152.2024/KLMBH-PY ngày 17/5/2024 của V1 kết luận: “Hình ảnh: Tổn thương mô da vùng lòng bàn tay trái do điện; Chảy máu cơ tim; Chảy máu phổi”.

Tại bản Kết luận giám định hóa pháp số 920/PY-XNĐH ngày 10/5/2024 của V1 kết luận: “Không tìm thấy các chất độc... trong mẫu máu, phủ tạng, chất chứa dạ dày của Nguyễn Văn Đ”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của P phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 hộp xốp niêm phong ký hiệu A bên trong có 01 bao tải dứa chứa những đồ vật gồm: 01 đoạn dây điện có vỏ nhựa màu vàng, hai đầu dây điện hở lõi đồng và được xoắn vào nhau có chiều dài 4,0 m, chủng loại "CO DIEN TRAN PHU" tiết diện 2C x 1,0 mm²; 01 đoạn dây điện có vỏ nhựa màu vàng, chiều dài 19,82 m, một đầu dây có một phích cắm, một đầu dây có một ổ cắm điện có hai ổ đôi và một ổ ba chân, cách đầu phích cắm 7,27 m có mối nối được quấn băng dính cách điện màu đen dài 5 cm, chủng loại của đoạn dây "CAD HOA TUNG" tiết diện 2C x 0,75 mm²; 01 đoạn dây điện có vỏ nhựa màu vàng dài 6,365 m, một đầu dây có một phích cắm, một đầu dây có một ổ cắm điện bên trên có hai ổ đôi, trong đó có một ổ bị dán kín bằng băng dính màu đen, cách đầu có phích cắm 5,04 m có mối nối được quấn băng dính cách điện màu đen dài 6,5 cm; 01 bó dây kim loại đã han rỉ đường kính dây 1mm, trong đó có các dây kim loại được cuộn vào nhiều đoạn tre khô có kích thước trung bình dài từ 33 cm đến 45 cm, bản rộng từ 0,8 cm đến 1,3 cm, các dây trong bó dây bị cuộn vào nhau tạo nên một bó rối không thể xác định được chiều dài.
  • - 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu D1 bên trong có 01 chiếc dép nhựa phải màu trắng, cỡ XL, bám dính nhiều bùn đất.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị P đã bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại là anh Nguyễn Văn Đ1 số tiền 150.000.000 đồng. Anh Đ1 đã nhận đủ số tiền trên và không còn yêu cầu, đề nghị gì về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho P.

Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKSPY ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 128; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị P từ 15 - 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 - 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã hỗ trợ, bồi thường xong cho đại diện bị hại số tiền 150.000.000 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị P đều thừa nhận, do ruộng lúa của gia đình tại khu vực tổ dân phố X, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên hay bị chuột phá hoại nên khoảng 17 giờ ngày 24/5/2024, Nguyễn Thị P đã có hành vi dùng dây điện kéo điện từ ổ điện trong chuồng lợn của gia đình P ra khu vực ruộng lúa để bẫy chuột, quá trình cắm điện bẫy chuột bị cáo ngồi trông coi nhưng do bất cẩn, chủ quan, nghĩ rằng đây là khu vực ít người qua lại, nên trong quá trình trông coi bẫy chuột, bị cáo đi vào nhà để vệ sinh nhưng không rút dây điện, không đảm bảo an toàn nên khi ông Nguyễn Văn Đ đi qua khu vực ruộng lúa nhà P thì bị vướng vào dây điện khiến ông Đ bị điện giật dẫn đến tử vong.

Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị P đã xâm phạm đến đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người” với tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:

“Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Bản cáo trạng số 165/CT-VKSPY ngày 14/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu

trên là có căn cứ.

[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã đến cơ quan công an để tự thú, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T là người có công với đất nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, hoàn toàn không mong muốn hậu quả xảy ra, bị cáo là người có nhân thân tốt, nơi cư trú ổn định, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và thật sự tỏ ra ăn năn, hối cải, tự nguyện hỗ trợ, khắc phục thiệt hại, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam, áp dụng hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng: Toàn bộ vật chứng trong vụ án là dây điện, dây thép và các vật khác là công cụ phạm tội, đồ vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu giải quyết về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt Nguyễn Thị P 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vô ý làm chết người”.

Giao bị cáo Nguyễn Thị P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy 01 hộp xốp niêm phong ký hiệu A ghi bên trong có 01 bao tải dứa chứa những đồ vật gồm: 01 đoạn dây điện có vỏ nhựa màu vàng, hai đầu dây điện hở lõi đồng và được xoắn vào nhau có chiều dài 4 mét, chủng loại “CO DIEN TRAN PHU” tiết diện 2C x 1,0 mm²; 01 đoạn dây điện có vỏ nhựa màu vàng, chiều dài 19,82m, một đầu dây có 01 phích cắm, đầu dây có 01 ổ cắm điện bên trên có hai ổ đôi và một ổ ba chân, cách đầu phích cắm 7,27 mét có mối nối được quấn băng dính cách điện màu đen dài 5cm, chủng loại của đoạn dây “CAD HOA TUNG” tiết diện 2C x 0,75mm²; 01 đoạn dây có vỏ nhựa màu vàng dài 6,365m, một đầu dây có một phích cắm, một đầu dây có một ổ cắm điện bên trên có hai ổ đôi, trong đó có một ổ bị dán kín bằng băng dính màu đen, cách đầu có phích cắm 5,04m có mối nối được quấn băng dính cách điện màu đen dài 6,5cm; 01 bó dây kim loại đã han rỉ đường kính dây 1mm, trong đó có các dây kim loại được cuộn vào nhiều đoạn tre khô có kích thước trung bình dài 33cm đến 45cm bản rộng 0,8cm đến 1,3cm, các dây trong bó dây bị cuộn vào nhau tạo nên một bó rối, không thể xác định được chiều dài; 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu D1 ghi bên trong có 01 chiếc dép nhựa phải màu trắng kích cỡ XL bám dính nhiều bùn đất.

Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác (nếu có);
  • - Công TTĐT TAND;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Xuân Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội vô ý làm chết người

  • Số bản án: 174/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P phạm tội Vô ý làm chết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger