Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/HS-ST

Ngày 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Ngô Rạng Đông

    Nơi công tác: Nguyên Trưởng phòng Giáo dục huyện Phú Quốc

  2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

    Nơi công tác: Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam, Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 và ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 154/2024/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST- HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Huỳnh Quốc, sinh ngày 01/02/2003; tại: P, Kiên Giang; Nơi cư trú: khu phố E, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hoàng T và bà: Huỳnh Thị Kim T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Có mặt.

  2. Trương Công T2, sinh ngày 02/9/2007; tại: P, Kiên Giang; (Tính đến ngày 05/11/2023 được 16 tuổi, 02 tháng 03 ngày); Nơi cư trú: khu phố E, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Công L và bà: Nguyễn Thị Thu T3; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  3. Võ Hoàng Anh T4, sinh ngày 15/01/2006; tại: P, Kiên Giang; (Tính đến ngày 05/11/2023 được 17 tuổi, 09 tháng 20 ngày); Nơi cư trú: Thôn T, xã E, T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Võ Thanh H và bà: Nguyễn Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Trương Công T2, Võ Hoàng Anh T4:

Luật sư Nguyễn Trường T5 - Do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K phân công bào chữa. Vắng mặt khi tuyên án.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trương Công T2: Bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 1966. Địa chỉ: khu phố E, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Võ Hoàng Anh T4: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1984. Địa chỉ: khu phố E, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Có mặt.

- Các bị hại.

  1. Em Nguyễn Thành T6, sinh ngày 06/5/2008. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Vắng mặt khi tuyên án.

    Người đại diện theo pháp luật: bà Phan Thị T7, sinh năm 1989 và ông Nguyễn Văn T8. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Vắng mặt khi tuyên án.

  2. Em Dương Văn H1, sinh ngày 09/01/2008. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Dương Thị H2, sinh năm 1978. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thành T6, Dương Văn H1: Ông Trần Duy K – Trợ giúp viên pháp lý. Do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K phân công bảo vệ. Vắng mặt khi tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1997. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

  2. Bà Ngô Thị Ánh T9, sinh năm 1995. Địa chỉ: khu phố C, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

  3. Ông Võ Như Trọng N1, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp S, xã D, thành phố P, Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 5/2023, Huỳnh Q có can thiệp, giải quyết mâu thuẫn giúp cho Dương Văn H1 (sinh ngày 09/01/2008) và Nguyễn Thành T6 (sinh ngày 06/5/2008) cả hai là học sinh của Trường THPT A, với một số người (chưa rõ nhân thân), từ đó Q, H1 và T6 quen nhau. Q nhiều lần yêu cầu H1, T6 cho mượn tiền hoặc mua C điện thoại cho Q nhưng H1 và T6 không có tiền nên dẫn đến bị Q đe dọa cưỡng đoạt tài sản và Q kêu Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 đe doạ H1, T6 để đưa tiền cho Q. Trong thời gian từ tháng 5/2023 đến ngày 07/11/2023, Q, T2 và T4 nhiều lần cưỡng đoạt tài sản của H1 và T6, cụ thể như sau:

- Dương Văn H1, đã nạp C điện thoại cho Q 02 lần, mỗi lần 50.000 đồng và 02 lần, mỗi lần 20.000 đồng, tổng cộng 140.000 đồng. Đến ngày 15/10/2023, Q kêu H1 đưa cho Q 300.000 đồng, nhưng H1 không có tiền đưa, nên Q nhắn tin chửi bới, đe dọa sẽ đánh H1, H1 sợ bị Q đánh nên chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng M1 cho Ngô Thị Ánh T9 (chủ tiệm game nơi Quốc chơi) số tiền 30.000 đồng, Q lấy số tiền này tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, Q nhiều lần gọi điện thoại qua ứng dụng M cho H1, nhưng H1 không nghe máy, Q không liên lạc được với H1 nên trong tháng 10/2023 (ngày không nhớ), Q uống nước với Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 tại quán T11, thuộc khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Q nói việc H1 không nghe điện thoại và không đưa tiền cho Q, Q kêu T2 và T4 kiếm H1 lấy tiền, nếu H1 không đưa tiền thì hâm dọa để H1 sợ đưa tiền, T2 và T4 đồng ý. Đến ngày 21/10/2023, T2 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 68P1-016.90 (xe của ông Trương Công L1, ba của T2) chở T4 đến sân bóng Đ, thuộc khu phố D, phường A, thành phố P, để đá banh, tại đây T4 gặp H1, nên hỏi Hà sao không đưa tiền cho Q, H1 nói sẽ nhắn tin sau cho Q, thì T4 dùng nón bảo hiểm đánh H1, để H1 sợ đưa tiền cho Q. Đến ngày 28/10/2023, T2 và T4 đi đến Trường THPT A tìm H1 để đe doạ tiếp, tại đây T2 dùng chân đá vào lưng của H1 01 cái, với mục đích buộc H1 đưa tiền cho Q. Đến ngày 05/11/2023, T2 và T4 chơi game tại tiệm Dũ, thuộc khu phố B, phường A, thành phố P, do không có tiền tiêu xài, nên T2 nhắn tin đe dọa H1, kêu H1 phải đưa tiền cho T2, vì sợ bị đánh nên H1 chuyển vào tài khoản V của anh Võ Như Trọng N1 (chủ tiệm game D), số tiền 50.000 đồng, T2 lấy số tiền 50.000 đồng mua đồ ăn và trả tiền chơi game hết.

- Nguyễn Thành T6, từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023, đã nạp C điện thoại cho Huỳnh Q 07 lần, mỗi lần số tiền 20.000 đồng, tổng cộng là 140.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ ngày 06/11/2023, Q đến nhà của T6, thuộc khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang kêu T6 đưa cho Q 200.000 đồng, T6 nói không có tiền, thì Q đe dọa sẽ đánh T6, do đó T6 hẹn Q vào ngày hôm sau sẽ đưa tiền, Q chạy xe về. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/11/2023, T6 nhắn tin lại cho Q báo là ngày hôm sau mới có tiền 100.000 đồng đưa cho Q, Q không đồng ý và nhắn tin lại cho T6 buộc T6 trong ngày 07/11/2023, phải đưa tiền cho Q, nếu không sẽ đánh T6, do lo sợ nên T6 nhờ Nguyễn Thị Bích N (chị của T6) chuyển khoản vào tài khoản MB cho Ngô Thị Ánh T9 (chủ tiệm game nơi Quốc chơi) số tiền 100.000 đồng, Q lấy số tiền này tiêu xài cá nhân hết. Do không có tiền tiếp tục đưa cho Huỳnh Q, nên ngày 10/11/2023, Nguyễn Thành T6, Dương Văn H1, đến Công an phường A, tố giác hành vi của Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4. Ngày 14/12/2023, Huỳnh Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, ngày 19/4/2024, bắt tạm giam. Ngày 08/8/2024 Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cu trú để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • - 01 tờ giấy A4, có nội dung thông tin chuyển khoản ngân hàng ngày 15/10/2023, từ Dương Văn H1, đến tài khoản ngân hàng M1 của Ngô Thị Ánh T9, số tiền 30.000 đồng.
  • - 04 tờ giấy A4, có nội dung thông tin tin nhắn Messenger giữa tài khoản H với Huỳnh Quốc Q.
  • - 09 tờ giấy A4, có nội dung thông tin tin nhắn Messenger giữa tài khoản Thành Trung với Huỳnh Quốc Q.
  • - 03 tờ giấy A4, có nội dung thông tin tin nhắn Messenger giữa tài khoản H với Công Tài.
  • - 01 danh sách sao kê tài khoản ngân hàng V của Võ Như Trọng N1, từ ngày 01/5/2023 đến ngày 12/11/2023.
  • - 01 danh sách sao kê tài khoản ngân hàng MB của Ngô Thị Ánh T9, từ ngày 01/5/2023 đến ngày 13/11/2023.
  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 68P1-016.90 của ông Trương Công L, T2 sử dụng đi phạm tội, ông L không có lỗi khi cho mượn xe nên không thu giữ.

Tất cả các tài liệu trên đã đưa vào hồ sơ vụ án hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 đã bồi thường cho các bị hại Dương Văn H1, Nguyễn Thành T6 số tiền 2.000.0000 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 159/CT-VKSPQ, ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Đối với bà Ngô Thị Ánh T9, anh Võ Như Trọng N1 không biết số tiền Huỳnh Quốc N2 chuyển khoản là tiền do phạm tội mà có nên không xử lý.

Tại phiên toà các bị cáo Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Hành vi của các bị cáo Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc T10 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Trương Công T2 từ 09 đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Võ Hoàng Anh T4 từ 09 đến 12 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 đã bồi thường cho các bị hại Dương Văn H1 số tiền 2.000.0000 đồng, bị hại H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm, bị hại Nguyễn Thành T6 không yêu cầu bồi thường, nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 phát biểu quan điểm: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo T2 và T4 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thật thà khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội các bị cáo là người dưới 18 tuổi; các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; các bị cáo có nhân thân tốt. Đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thành T6 và Dương Văn H1 phát biểu quan điểm: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện theo pháp luật và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Bị cáo Huỳnh Q là người đã thành niên trong thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 07/11/2023 đã đe doạ sẽ dùng vũ lực để nhiều lần cưỡng đoạt tài sản của em Dương Văn H1 (tính đến ngày 05/11/2023 được 15 tuổi, 09 tháng 26 ngày) và em Nguyễn Thành T6 (tính đến ngày 07/11/2023 được 15 tuổi, 06 tháng 01 ngày). Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Trương Công T2 sau khi nghe Huỳnh Q kêu T2 và Võ Hoàng Anh T4 đi tìm em Dương Văn H1 để đe doạ nhằm mục đích buộc H1 đưa tiền cho Q thì T2 và T4 đã 02 lần đi tìm H1 để đe doạ và buộc H1 đưa tiền cho Q, nhưng do cả 02 lần H1 không có tiền nên T2 và T4 không lấy được tiền. Đến ngày 05/11/2023, T2 nhắn tin đe doạ buộc H1 chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng với số tiền là 50.000 đồng, T2 sử dụng số tiền này mua đồ ăn và trả tiền chơi game. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Võ Hoàng Anh T4 là đồng phạm của Huỳnh Q và Trương Công T2, theo lời kêu gọi của Q thì T4 đã 02 lần cùng T2 đi tìm Dương Văn H1 để đe doạ buộc H1 phải đưa tiền cho Huỳnh Q. Mặc dù cả 02 lần T4 và T2 đều không lấy được tiền của H1, nhưng hành vi của bị cáo T4 đã tạo tâm lý lo sợ cho H1, từ đó H1 mới chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng cho T2 với số tiền là 50.000 đồng. Hành vi của bị cáo T4 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Huỳnh Q có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên và xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Q, T2 và T4 thật thà khai báo, ăn năn hối cải; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Dương Văn H1 nên các bị cáo T2 và T4 có tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 và Điều 91 Bộ luật hình sự.

[5]. Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng cho bị cáo Huỳnh Quốc L2 có căn cứ và đúng pháp luật. Về các tình tiết giảm nhẹ đề nghị áp dụng cho các bị cáo Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 là có căn cứ, đúng pháp luật; về tình tiết tăng nặng đề nghị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T2 và T4 là không có căn cứ, nên không chấp nhận.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 đã bồi thường cho các bị hại Dương Văn H1 số tiền 2.000.0000 đồng, bị hại H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm; bị hại Nguyễn Thành T6 không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Huỳnh Quốc P giao nộp số tiền đã chiếm đoạt của Nguyễn Thành T6 là 240.000 đồng, sung vào ngân sách nhà nước.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”..

  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 BLHS.

    Xử phạt Huỳnh Q 04 (Bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 19/4/2024)

  3. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 38 BLHS.

    Xử phạt Trương Công T2 01 (Một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo vào chấp hành hình phạt.

  4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 38 BLHS.

    Xử phạt Võ Hoàng Anh T4 09 (Chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo vào chấp hành hình phạt.

  5. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

    Buộc bị cáo Huỳnh Quốc P giao nộp số tiền do phạm tội mà có là 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng), sung vào ngân sách nhà nước.

  6. Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Q, Trương Công T2 và Võ Hoàng Anh T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, báo cho các bị cáo, các bị hại, những người đại diện theo pháp luật, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ) để yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp Kiên Giang;
  • - VKS thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THA Dân sự;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Võ Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về cưỡng đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 174/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HUYNH QUOC phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger