TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 174/2024/DS-ST
Ngày: 22 - 10 - 2024
V/v: "Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Diệu
Ông Lê Văn Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 113/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 26/2024/QĐST-DS, ngày 08 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 351/2024/QĐST-DS, ngày 20 tháng 9 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 19/TB-TA, ngày 03 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1977.
Địa chỉ: số B, ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đinh Thị Bé M, sinh năm 1972.
Địa chỉ: F, tổ F, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Bùi Phước T, sinh năm 1985
2.2. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1957
Cùng địa chỉ: số G, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa, ông T và bà M có mặt, bà M1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Văn N trình bày:
Vào khoảng năm 2020 ông T có trực tiếp hỏi mua thức ăn của ông N để về chăn nuôi gà ban đầu hai bên không có làm giấy tờ, chỉ ghi vào sổ nhận hàng, đến ngày 03/3/2023 thì hai bên thống nhất còn nợ số tiền 572.450.000 đồng ông T và bà M1 là mẹ ông T đã ký vào giấy công nợ. Đến ngày 22/4/2023 âm lịch thì ông T trả cho ông N số tiền 17.200.000 đồng, số tiền còn nợ lại là 555.250.000 đồng. Ông N cho rằng nhiều lần đến nhà ông T yêu cầu trả nợ nhưng vẫn không thực hiện. Từ đó, ông N khởi kiện yêu cầu ông T và bà Nguyễn Thị M1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông N số tiền nợ thức ăn là 555.250.000 đồng.
Về tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp khi khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án:
- Giấy xác nhận công nợ ngày 03 tháng 3 năm 2023. Ông Bùi Phước T thừa nhận, ông T ký và ghi tên Bùi Phước T và bà M1 ký và ghi tên Nguyễn Thị M1 dưới mục khách hàng. Nội dung giấy xác nhận công nợ xác nhận đến ngày 03/3/2023 còn nợ đại lý thức ăn T2 là 572.450.000 đồng.
- Các giấy xác nhận của ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Minh L cùng ngày 26/8/2024.
Ông N cho rằng mặc dù khi hỏi mua thức ăn thì ông T trực tiếp hỏi mua của ông N, tuy nhiên ông T là con bà M1 sống chung nhà với bà M1, việc ông T mua thức ăn về nhà để cùng chăn nuôi gà thì bà M1 sẽ biết rõ vì ông N bán thức trong một thời gian dài, các lần ông N giao thức ăn có khi bà M1 cũng nhận thức ăn từ ông N, việc ông T nuôi gà mục đích sinh lợi để phát triển kinh tế chung cho gia đình, số tiền nợ thức ăn đến ngày 03/3/2023 với số tiền là 572.450.000 đồng. Việc bà M1 đã cùng ông T ký vào giấy xác nhận công nợ lập ngày 03/3/2023 dưới mục khách hàng là trên cơ sở tự nguyện không có thể hiện sự ép buộc nào. Do vậy, yêu cầu ông T và bà M1 có trách nhiệm liên đới trả số nợ cho ông N là 555.250.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Bùi Phước T trình bày:
Vào khoảng năm 2020, thì ông T có mua thức ăn chăn nuôi của ông N để nuôi gà, ban đầu hai bên chỉ hợp đồng miệng không có làm giấy tờ, mỗi lần khi giao thức ăn thì ông T có ký bên sổ giao hàng của bên ông N, về phương thức trả tiền là khi bán trứng hoặc bán gà con sẽ trả cho ông N, mỗi lần trả cộng sổ, xác nhận nợ còn lại và tiếp tục nhận thức ăn để chăn nuôi gà. Do tình hình dịch bệnh covid, trứng gà và gà con không bán được nên không trả cho ông N được theo như đã thỏa thuận ban đầu, kéo dài số tiền nợ thức ăn đến ngày 03/3/2023 thì số tiền nợ thức ăn còn lại là 572.450.000 đồng, đến ngày 22/4/2023 ông T trả được 17.200.000 đồng, số tiền còn nợ hiện tại là 555.250.000 đồng.
Đối với tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thì bị đơn ông T xác định: giấy xác nhận công nợ ngày 03 tháng 3 năm 2023 ông T thừa nhận, ông T ký và ghi tên Bùi Phước T và bà M1 ký và ghi tên Nguyễn Thị M1 dưới mục khách hàng. Nội dung xác nhận đến ngày 03/3/2023 còn nợ đại lý thức ăn T2 là 572.450.000 đồng.
Ông T cho rằng bà M1 không có liên quan đến việc mua thức ăn của ông N vì khi hỏi giao dịch mua thức ăn của ông N thì chỉ có ông T mua, ông nuôi gà riêng không liên quan đến gì đến bà M1 là mẹ của ông T, mẹ ông đã lớn tuổi không có tham gia chăn nên không liên quan đến số tiền nợ ông N. Ông T cho rằng bà M1 thừa nhận có ký vào giấy xác nhận công nợ lập ngày 03/3/2023, còn nợ anh N số tiền là 572.450.000 đồng, tuy nhiên việc bà M1 ký giấy công nợ lập ngày 03/3/2023 là chỉ để làm chứng xác định ông T có nợ ông N số tiền 572.450.000 đồng chứ không phải nợ chung của bà M1 và ông T.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến trình bày ngày 27/6/2024 bà Nguyễn Thị M1 là bị đơn trong vụ án trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị M1 là mẹ của ông Bùi Phước T sống cùng nhà với ông T, việc ông T hỏi mua thức ăn của ông N để nuôi gà bà M1 không biết, còn việc bà ký vào giấy xác nhận công nợ ngày 03/3/2023 là chữ ký của bà nhưng bà cho rằng ký để chứng kiến việc ông T con bà nợ chứ không phải nợ của bà và ông T. Bà đã lớn tuổi nên không tham gia vào việc làm ăn chăn nuôi của T, nguồn kinh tế chính của bà là khoảng 05 công đất vườn, không phụ thuộc vào kinh tế của T. Đối với yêu cầu của ông N yêu cầu bà cùng ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền nợ mua thức ăn là 555.250.000 đồng bà không đồng ý. Bà có yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định trong quá trình quyết vụ án, ông T đã trả được cho ông N số tiền 10.000.000 đồng. Hiện tại yêu cầu ông T và bà M1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền còn nợ là 545.250.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn T trình bày: tổng số tiền nợ thức ăn của ông N là 555.250.000 đồng, ông đã trả được cho ông N số tiền là 10.000.000 đồng, số tiền còn nợ là 545.250.000 đồng, ông xác định nợ riêng, không liên quan đến bà M1, vì hiện tại hoàn cảnh khó khăn nên chậm trả nợ cho ông N.
Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn ông N thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ Luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn ông T thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn bà M1 không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 27/5/2024 là chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Ý kến về việc giải quyết vụ án: căn cứ điều 430, 440 Bộ luật Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N.
- Buộc ông Bùi Phước T và bà Nguyễn Thị M1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn N số tiền là 545.250.000 đồng .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
- Ông Trần Văn N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ông Bùi Phước T và bà Nguyễn Thị M1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền còn nợ trong hợp đồng mua bán. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của ông N xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự 2015. Quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ông Bùi Phước T và bà Nguyễn Thị M1 là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án bà M1 có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, xét nội dung yêu cầu của bà M1 là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà M1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T và bà M1 và có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền mua thức ăn còn nợ là 555.250.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án ông T trả được 10.000.000 đồng. Hiện tại yêu cầu ông T và bà M1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền còn nợ là 545.250.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp:
- Giấy xác nhận công nợ ngày 03 tháng 3 năm 2023 ông Bùi Phước T thừa nhận, ông T ký và ghi tên Bùi Phước T và bà M1 ký và ghi tên Nguyễn Thị M1 dưới mục khách hàng. Nội dung giấy xác nhận công nợ xác nhận đến ngày 03/3/2023 còn nợ đại lý thức ăn T2 là 572.450.000 đồng. Đối với giấy xác nhận công nợ ngày 03 tháng 3 năm 2023 mẫu giấy có đánh máy là của ông N cung cấp, ông N có nhờ thì ông D có viết dùm vào những nơi có dấu chấm không có đánh máy, nơi viết tại nhà ông T và tại phiên tòa ông N, ông T cũng thừa nhận lời trình bày của ông D về nội dung này.
- Các giấy xác nhận của ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Minh L cùng ngày 26/8/2024.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn ông T thừa nhận còn nợ số tiền mua thức ăn của ông N là 545.250.000 đồng.
- Đối với yêu cầu của ông N là yêu cầu bà M1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền nợ thức ăn là 545.250.000 đồng.
Xét thấy: mặc dù bà M1 không trực tiếp hỏi mua thức ăn của ông N nhưng bà M1 và ông T sống cùng nhà, ông N đã bán thức ăn từ năm 2020 đến ngày 03/3/2023 tổng kết nợ thì bà M1 và ông T ký xác nhận công nợ, các lần ông N giao thức ăn có khi bà M1 cũng nhận thức ăn từ ông N, đồng thời tại địa phương ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H cùng xác nhận ông T và bà M1 cùng chăn nuôi gà từ việc mua thức ăn của ông N, nên bà M1 trình bày không biết việc ông T mua thức ăn của ông N là không có căn cứ, còn đối với ông T và bà M1 cho rằng bà M1 ký trong giấy công nợ ngày 03/3/2023 với tư cách là người làm chứng, tuy nhiên Tòa án đã thông báo cho bà M1 cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh bà M1 ký vào giấy công nợ ngày 03/3/2023 với tư cách là người làm chứng nhưng bà M1 không cung cấp được. Từ những nhận định nêu trên, có căn cứ xác định tuy là bà M1 không trực tiếp hỏi mua thức ăn của ông N nhưng bà M1 và ông T cùng chăn nuôi gà từ việc mua thức ăn của ông N. Đồng thời bà M1 cùng ông T ký tên giấy xác nhận công nợ dưới mục khách hàng ngày 03/3/2023 là trên cơ sở tự nguyện, không có sự ép buộc nào từ phía ông N. Từ đó, ông N yêu cầu bà M1 cùng ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông N số tiền còn nợ thức ăn là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau, ông N không yêu cầu bà M1 cùng ông T có nghĩa vụ liên đới trả nợ nên Tòa án lập biên bản hòa giải thành ngày 27/5/2024, tuy nhiên sau đó ngày 28/7/2024 ông N có ý kiến thay đổi nội dung biên bản hòa giải thành ngày 27/5/2024, yêu cầu bà M1 có nghĩa vụ liên đới cùng ông T trả số tiền nợ là 555.250.000 đồng. Xét thấy, việc hòa giải thành là trên cơ sở các bên tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, nếu có sự thay đổi ý kiến trong thời gian pháp luật quy định thì vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết theo quy định, do vậy không xem việc thỏa thuận đó là căn cứ quyết vụ án.
[2.4] Do ông T và bà M1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ông N nên việc ông N yêu cầu ông T và bà M1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ thức ăn là 545.250.000 đồng là có cơ sở nên được xem xét chấp nhận.
[2.5] Về yêu cầu tính tiền lãi: do ông N chỉ yêu cầu ôngg T và bà M1 trả số tiền nợ thức 545.250.000 đồng, không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của ông N được chấp nhận nên buộc ông Bùi Phước T và bà Nguyễn Thị M1 có trách nhiệm liên đới phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 25.810.000 đồng. Tuy nhiên, bà M1 là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông T còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 12.905.000 đồng. Ông N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 430, 440; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N.
Buộc ông Bùi Phước T và bà Nguyễn Thị Mới P có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Văn N số tiền còn nợ trong hợp đồng mua bán là 545.250.000 đồng (năm trăm bốn mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Bùi Phước T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 12.905.000 đồng (mười hai triệu, chín trăm lẻ năm nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Thị M1 được miễn phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Văn N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.105.000 đồng (mười ba triệu, một trăm lẻ năm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004780 ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 174/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 174/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
