|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 174/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2024
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dũng
2. Ông Giang Thành
- Thư ký ghi biên bản: Bà Đinh Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất: không tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 329/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1978 (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn ly hôn và tại phiên toà sơ thẩm, bà Lê Thị Quy trình B:
Bà và ông Trần Văn C qua sự mai mối của người thân nên quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau. Hai bên tiến đến hôn nhân năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 02/10/2002. Ông bà có 03 người con chung gồm Trần Văn H, sinh năm 1996; Trần Thị H1, sinh năm 1998 và Trần Lý Đ, sinh ngày 03/5/2007.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà cũng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cự cãi, bất hoà trong gia đình.
Nay bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
- Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn C.
- Về con chung: Bà Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con chưa thành niên tên Trần Lý Đ đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Văn C:
Các văn bản tố tụng của Tòa án đã được thông báo hợp lệ cho ông Trần Văn C theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông C không có mặt tại Toà và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về nội dung yêu cầu ly hôn của bà Q nên không có lời khai của ông C tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Q có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Văn C. Phía bị đơn cư trú tại ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn C đã được Tòa án thông báo đến lần thứ hai về việc tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3]. Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Q và ông Trần Văn C kết hôn là do tự nguyện yêu thương và đi đến hôn nhân. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/10/2002 là đúng quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Do đó, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, dẫn đến việc hai bên sống ly thân từ nhiều tháng nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy: Bà Q và ông C hiện tại đang sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến cuộc sống của nhau trong thời gian dài. Trong thời gian thụ lý vụ án, Tòa án đã có thông báo các thủ tục tố tụng mời ông C có mặt tại các phiên hòa giải và xét xử nhưng ông đều vắng mặt, chứng tỏ ông C không có thiện chí muốn hoà giải hàn gắn với bà Q. Tại phiên tòa hôm nay, bà Q xác định không còn tình cảm với ông C và mong muốn được chấm dứt quan hệ hôn nhân này. Như vậy, HĐXX xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q.
[4]. Về con chung: Ông bà có 03 con chung, trong đó 02 con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng. Đối với cháu Trần Lý Đ còn đang trong độ tuổi đi học, bà Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, bà Q trình bày hiện tại bà đang thuê nhà trọ và làm thuê sinh sống hàng ngày, do đó với điều kiện này bà sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải lo cho cháu Đ ăn học nên bà đồng ý giao cháu Đ cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng vì hiện nay cháu vẫn đang sinh sống tại nhà với cha. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, HĐXX ghi nhận ý kiến của bà Q, giao cháu Đ cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Các đưỡng sự không có yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này ông C có yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con thì có đơn yêu cầu Toà án giải quyết bằng vụ án khác.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này nếu các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Quy .
[6]. Về án phí: Bà Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 28, 227, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Q được ly hôn với ông Trần Văn C.
2. Về con chung: Giao cho ông Trần Văn C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Lý Đ, sinh ngày 03/5/2007 đến khi con tới tuổi trưởng thành.
Trong thời gian nuôi dưỡng con chung, bà Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Q phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo biên lai thu số 0001183 ngày 24 tháng 6 năm 2024. Bà Q không phải nộp thêm.
Án xử công khai. Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trần Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ Phiên Tòa Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 174/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 174/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
