Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/DS-ST

Ngày 24 – 9 – 2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Trí

Bà Bùi Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Tùng Kháng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 321/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành K - Sinh năm: 1965 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Bà Nguyễn Hồng N - Sinh năm: 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2024, và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Nguyễn Thành K trình bày:

Bà Nguyễn Hồng N là chủ hụi tại địa phương. Ông có tham gia chơi hụi của bà N 01 chưng hụi sống, tại dây hụi 2.000.000 đồng, loại hụi tháng, khui ngày 29/02/2022 (âm lịch), gồm 26 chưng hụi. Hụi đã khui được 15 kỳ, đến ngày 21/4/2023, Bà N đình hụi và đóng cửa nhà ông không liên hệ được. Hiện nay, bà N cố tình trốn tránh trách nhiệm, không có thiện chí trả nợ hụi cho ông. Tính đến ngày đình hụi, bà N nợ ông số tiền hụi là 30.000.000 đồng. Nay ông yêu cầu bà N trả số tiền hụi là 30.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.

Bị đơn là bà Nguyễn Hồng N đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình. Đồng thời, Tòa án có xuống trực tiếp nhà của bà N để ghi nhận ý kiến nhưng bà N không có mặt tại nhà, do vậy không ghi nhận được ý kiến của bà N.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thành K yêu cầu bà Nguyễn Hồng N trả số tiền hụi là 30.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước trình bày:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K đối với bà N. Buộc bà N thanh toán cho ông K số tiền hụi là 30.000.000 đồng, ông K không yêu cầu lãi suất nên không xem xét.

+ Về án phí: Đương sự chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thành K với bị đơn bà Nguyễn Hồng N là “Tranh chấp hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguyễn Hồng N có địa chỉ cư trú tại ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Hồng N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án như sau:

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành K về việc yêu cầu bà Nguyễn Hồng N trả số tiền hụi là 30.000.000 đồng.

Quá trình làm việc tại Tòa án, ông K xác định có tham gia chơi hụi do bà N làm chủ hụi, dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 29/02/2022 âm lịch, có 26 chưng, ông K tham gia 01 chưng. Sau khi khui hụi được 15 kỳ (từ ngày 21/02/2022 âm lịch đến ngày 21/04/2023 âm lịch) thì bà N tuyên bố đình hụi. Sau khi bà N tuyên bố đình hụi thì bà N đóng cửa nhà và cố tình trốn tránh trách nhiệm trả nợ hụi. Nay ông K yêu cầu bà N trả cho ông số tiền hụi của 15 kỳ đã khui với số tiền là 30.000.000 đồng và không yêu cầu lãi suất. Tại biên bản làm việc ngày 20/8/2024 và tại phiên tòa ông K xác định ông chỉ yêu cầu bà N trả lại ông số tiền 30.000.000 đồng. Ông xác định giao dịch hụi giữa ông và bà N không có liên quan đến chồng bà N là ông T nên ông chỉ khởi kiện bà N. Đối với bà N, kể từ khi thụ lý vụ án bà N đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ và thông báo về các phiên hòa giải, triệu tập đến để xét xử, nhưng bà N1 vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông K. Điều này, cho thấy bà N không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phải tự chịu hậu quả pháp lý cho việc không đưa ra chứng cứ chứng minh và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại Hợp đồng mở hụi tháng do ông K cung cấp cho Tòa án thì có nội dung “Các bên thống nhất cử bà N làm đại diện chủ hụi, chủ hụi được hưởng mỗi kỳ mở hụi số tiền là 1.200.000 đồng (trừ trường hợp kỳ lĩnh hụi là chính chủ hụi, số tiền này được trích từ tổng số tiền người hốt hụi mỗi kỳ)” và Hợp đồng mở hụi có thành viên hụi tên “Nguyễn Thành K”. Đồng thời, theo giấy xác minh thành viên hụi tháng ngày 21/6/2024 được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau chứng thực có bà Châu Thị N2, bà Huỳnh Kim Â, ông Nguyễn Trọng Đ là những người cùng tham gia chơi hụi với ông K xác định ông K có tham gia 01 chưng hụi trong dây hụi ngày 29/02/2022 âm lịch do bà N làm chủ hụi nhưng sau đó đình hụi và không hoàn lại tiền hụi cho hụi viên còn hụi sống là ông K. Hơn nữa, tại biên bản làm việc ngày 16/8/2024 của Tòa án thì ông Trần Thanh T1 – Trưởng ấp N, xã L, huyện C xác định “Tại địa phương thì chính quyền địa phương biết bà N có mở hụi và làm chủ hụi, có nhiều tay em tham gia nhưng không biết vì lý do gì mà bà N vỡ hụi và bỏ địa phương đi làm cho đến nay”. Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định giữa ông K với bà N có xảy ra giao dịch hụi, trên cơ sở hợp đồng mở hụi tháng, sự xác nhận của những người cùng tham gia chơi hụi với ông K và chính quyền địa phương có căn cứ xác định bà N còn nợ ông K số tiền hụi là 30.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 8 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường thì: “8. Các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Bà N đã tuyên bố đình hụi và thỏa thuận bốc thăm để trả tiền hụi lại cho hụi viên có hụi chưa hốt nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K đối với bà N về tiền hụi, buộc bà N thanh toán cho ông K số tiền nợ hụi 30.000.000 đồng.

[3.2] Về yêu cầu tính lãi: Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/6/2024 và tại phiên tòa, ông K không yêu cầu tính lãi đối với số tiền hụi là 30.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà N phải chịu số tiền án phí đối với yêu cầu của ông K được chấp nhận là 30.000.000 đồng với số tiền án phí 1.500.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Ông K không phải chịu án phí. Ông K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 750.000 đồng (B trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013380 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được nhận lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

[5] Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 357; Điều 471; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành K đối với bà Nguyễn Hồng N.

    Buộc bà Nguyễn Hồng N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Thành K số tiền hụi là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày ông Nguyễn Thành K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Hồng N không thi hành thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Hồng N phải chịu án phí số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Ông Nguyễn Thành K không phải chịu án phí. Ông Nguyễn Thành K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 750.000 đồng (B trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013380 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được nhận lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy đinh tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 174/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông K yêu cầu bà N trả lại số tiền hụi còn thiếu là 30.000.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger