|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2024/HS-ST Ngày: 19-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thân Văn Nhàn
Ông Dương Văn Toản
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Đại diện VKSND thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Việt A – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLST - HS ngày 23/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 05/8/2024 và thông báo thay đổi ngày mở phiên tòa số 09/TB-TA ngày 16/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tạ Minh Đ, sinh năm 1988; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Khu B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn D và bà Dương Thị M; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 71/2010/HSST ngày ngày 27/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong án phí ngày 02/8/2010.
Bản án số 174/2013/HSST ngày 30/10/2013 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt Đ 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong án phí ngày 30/5/2014.
Bản án số 41/2013/HSST ngày 26/12/2013 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tổng hợp hình phạt 18 tháng tù tại bản án số 174/2013/HSST ngày 30/10/2013 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội buộc phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 42 tháng tù); chấp hành xong án phí ngày 30/5/2014.
Bản án số 323/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong án phí ngày 28/12/2018.
Bản án số 107/2020/HSST ngày 26/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/3/2022, chấp hành xong án phí ngày 01/9/2020, đã bồi thường cho bị hại vào năm 2023.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại
1. Chị Mã Thu H – sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 8, phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
2. Chị Vi Ngô T, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Khả Lý Thượng, phường Quảng Minh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
3. Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
1. Anh Nguyễn Hữu Đ1 – sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn phồn X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
2. Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tạ Minh Đ, sinh năm 1988, trú tại khu B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Ngày 26/4/2024, Đ đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2024, Đ đi xe bus từ phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh sang địa phận phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để trộm cắp tài sản. Đ đi bộ vào khu dân cư mới thuộc địa phận tổ dân phố N, phường N, thị xã V thấy trên vỉa hè có dựng xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 (chưa xác định được bị hại), chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, xung quanh không có người. Đ ngồi lên xe mô tô, mở khóa điện, đề xe nổ máy rồi điều khiển bỏ đi về hướng Khu công nghiệp Q để tiếp tục trộm cắp tài sản.
Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày 26/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 trộm cắp được đến quán nước
“HOA CAFE” ở tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để uống nước. Lúc này, Đ thấy chị Mã Thu H, sinh năm 2003, trú tại tổ H, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang là nhân viên của quán “HOA CAFE” để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128GB, vỏ màu xanh, bên trong điện thoại lắp 01 sim số 087.753.867 trên mặt bàn quầy bán hàng. Đ đi đến bàn đối diện quầy bán hàng ngồi chờ chị H mang nước uống cho Đ. Sau đó, chị H mang nước uống cho Đ rồi đi khỏi quán để mua đồ ăn. Thấy trong quán bán hàng không có người, Đ đi tới bàn quầy bán hàng lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của chị H đút vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 bỏ đi khỏi quán.
Vụ thứ ba: Sau khi lấy trộm được điện thoại di động của chị H, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 đi đến tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để tiếp tục tìm xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp tiếp. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, Đ điều khiển xe đi tới cửa quán cắt tóc “Á” mở tại nhà chị Vi Ngô T, sinh năm 2003, ở tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, thấy trước cửa quán dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, tại hốc để đồ phía trước xe mô tô có để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, loại 256GB, màu xanh, bên ngoài có một ốp lưng bằng nhựa hình gấu dâu, bên trong điện thoại lắp 01 sim số 0705.005.448 của chị Vi Ngô T, xung quang không có người. Đ điều khiển xe mô tô dừng sát vào xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision rồi dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của chị T để ở hốc để đồ xe mô tô, đút vào túi quần rồi điều khiển xe bỏ đi.
Vụ thứ tư: Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại di động của chị Vi Ngô T, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 đến phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ ngày 26/4/2024, Đ đi đến địa phận tổ dân phố S, phường N, thị xã V nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 98AH-032.61 của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955, trú tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang dựng ở rìa đường, chìa khóa xe vẫn đang cắm ở ổ khóa điện, xung quanh không có người. Khi này, ông T1 đang vào nhà dân để thu tiền thu gom rác thải của người dân. Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 đỗ sát chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO của ông T1. Sau đó, Đ xuống xe, ngồi lên xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 98AH-032.61 của ông T1, mở khóa điện đề xe nổ máy, điều khiển xe bỏ về tỉnh Bắc Ninh; đồng thời Đ bỏ lại xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 ở rìa đường, không quay lại lấy xe nữa. Khi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 98AH-032.61 đi đến khu vực ven sông C gần cầu Đ thuộc địa phận thành phố B, Đ đỗ xe lại, tháo biển kiểm soát vứt xuống sông C. Tiếp đó, Đ lấy biển kiểm soát xe số 29P1-628.86 do Đ nhặt được từ trước cất giấu ở khu vực ven sông C vào xe mô tô nhãn hiệu ESPERO trộm
cắp của ông T1. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô trộm cắp vào trong thành phố B để tìm cửa hàng điện thoại thuê mở khóa điện thoại di động trộm cắp. Trên đường đi, Đ tháo vỏ ốp điện thoại và 02 sim điện thoại trộm cắp của chị H và chị T vứt đi. Khoảng 20 giờ cùng ngày 26/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô trộm cắp đến quán “Sửa chữa điện thoại 60s” tại số D đường H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do anh Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1994, trú tại khu phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang làm chủ để thuê mở khóa màn hình 02 điện thoại đã trộm cắp nêu trên mục đích để mang đi bán lấy tiền nhiều hơn. Tại đây, Đ đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và chiếc Iphone 12 Promax trộm cắp của chị T và chị H cho anh Đ1 mở khóa màn hình điện thoại. Đ nói dối anh Đ1 02 chiếc điện thoại trên là của Đ, do để lâu không sử dụng nên quên mật khẩu. Sau khi kiểm tra, anh Đ1 đồng ý nhận mở mật khẩu điện thoại cho Đ, bảo Đ hôm sau đến lấy thì Đ đồng ý rồi điều khiển xe mô tô trộm cắp về nhà. Ông T1 sau khi thu tiền rác thải của người dân xong, đi ra lấy xe mô tô thì phát hiện xe mô tô của mình bị mất trộm. Ông T1 thấy xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 để ở vị trí xe mô tô bị mất trộm, không có ai nhận là chủ xe nên ông T1 điều khiển đi về nhà.
Ngày 26/4/2024, chị Vi Ngô T có đơn trình báo đến Công an phường Q, thị xã V về việc bị mất trộm chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax nêu trên.
Khoảng 15 giờ ngày 27/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO trộm cắp gắn biển kiểm soát 29P1-628.86 đến quán sửa chữa điện thoại của anh Đ1 lấy lại 02 chiếc điện thoại trộm cắp của chị T và H rồi đến thì Công an phường Q, thị xã V đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Khi đầu thú, Đ giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, loại 256GB, không lắp thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128GB, không lắp thẻ sim; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, lắp biển kiểm soát 29P1-628.86, số khung: RPEVCBJPEMA494907, số máy: VDEJQ139FMBC494907; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số IMEI: 358465/09/18776/8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số seri: 353687074087922.
Ngày 27/4/2024, Công an phường Q tiến hành bàn giao Tạ Minh Đ cùng vật chứng thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 30/4/2024, ông Nguyễn Văn T1 có đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V về việc bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát 98AH-032.61 và giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, số máy: E435VN111514, số khung: RLSBE4AA040111514, biển kiểm soát 99H3-6907 do Đ để lại sau khi trộm cắp xe mô tô của ông T1.
Ngày 02/5/2024, chị Mã Thu H có đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V về việc bị mất trộm điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128 GB nêu trên.
Ngày 02/5/2024 và ngày 08/5/2024, Cơ quan điều tra thu giữ được tại camera an ninh lắp tại quán nơi chị H, chị T bị trộm cắp tài sản toàn bộ hình ảnh video ghi lại việc Đ thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại như nêu trên.
Ngày 02/5/2024 và 20/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động Iphone do Đ giao nộp; kết quả xác định được điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, loại 256GB có mật khẩu mở màn hình và thông tin cá nhân của chị T cung cấp; điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128GB có mật khẩu mở màn hình và thông tin cá nhân của chị H.
Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V đã định giá và kết luận trị giá tài sản Đ trộm cắp tại thời điểm trộm cắp: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, loại 256GB trị giá 8.000.000 đồng; 01 ốp điện thoại Iphone 11 Promax bằng nhựa hình gấu dâu trị giá 100.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128 GB, trị giá 11.000.000 đồng; 02 phôi sim điện thoại có tổng trị giá 50.000 đồng (25.000đồng/chiếc); 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát 98AH-032.61 trị giá 5.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 24.150.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 95/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V định giá và kết luận trị giá xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, số máy: E435VN111514, số khung: RLSBE4AA040111514, biển kiểm soát 99H3-6907 tại thời điểm Đ trộm cắp là 1.300.000 đồng.
Ngày 25/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Nguyễn Hữu Đ1 nhận dạng người thuê anh Đ1 mở mật khẩu điện thoại di động Iphone 11 Promax, loại 256GB và điện thoại Iphone 12 Promax, loại 128 GB như nêu trên, trong bản ảnh những người đưa ra nhận dạng có ảnh của Tạ Minh Đ; kết quả: anh Đ1 nhận ra Đ chính là người thuê anh mở mật khẩu hai chiếc điện thoại nêu trên vào ngày 26/4/2024.
Kết quả điều tra, xác định xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907, là tài sản của ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960, trú tại khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Ông H1 khai bị mất trộm xe mô tô trên khi để ở sân của gia đình ông H1 vào khoảng cuối tháng 4/2024, không biết ai trộm cắp và ông H1 cũng chưa trình báo cơ quan Công an. Tạ Minh Đ vẫn chỉ khai nhận trộm cắp chiếc xe mô tô trên tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang như nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đ chỉ hiện trường nơi trộm cắp chiếc xe tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, rà soát tìm bị hại, dữ liệu camera đối với vụ việc Đ trộm
chiếc xe mô tô Suzuki Viva trên tại thị xã V nhưng chưa xác định được bị hại. Hiện không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh Đ trộm cắp xe mô tô nêu trên tại tỉnh Bắc Ninh cũng như chưa xác định được bị hại bị mất xe mô tô tại thị xã V. Cơ quan điều tra tiến hành chuyển nguồn tin về tội phạm tiếp nhận việc ông Nguyễn Văn H1 bị mất trộm xe mô tô nêu trên cùng xe mô tô Suzuki Viva, biển kiểm soát 99H3-6907 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 23/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Tạ Minh Đức ra trước Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Tạ Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tạ Minh Đ từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/4/2024.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự.
Trả lại bị cáo Tạ Minh Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng bạc có số IMEI: 358465/09/18776/8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số seri: 353687074087922. Nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá
trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 26/4/2024, Tạ Minh Đ đã liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 26/4/2024, tại vỉa hè đường khu dân cư mới thuộc địa phận tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Đ trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA, biển kiểm soát 99H3-6907 trị giá 1.300.000 đồng, chưa xác định được bị hại.
- Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, tại quán nước “HOA CAFE” thuộc tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Đ trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128 GB, bên trong lắp 01 thẻ sim có tổng trị giá 11.025.000 đồng của chị Mã Thu H, sinh năm 2003, trú tại Tổ H, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
- Vụ thứ 3: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, tại cửa quán cắt tóc “Á" ở tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Đ trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, loại 256GB, bên ngoài có một ốp lưng bằng nhựa, bên trong điện thoại lắp 01 thẻ sim có tổng trị giá 8.125.000 đồng của chị Vi Ngô T, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Vụ thứ tư: Khoảng 19 giờ ngày 26/4/2024, tại rìa đường ở tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Đ trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 98AH-032.61 trị giá 5.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955, trú tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Tổng trị giá tài sản Đ trộm cắp trong 04 vụ nêu trên là 25.450.000 đồng (trong đó 01 vụ có trị giá tài sản 1.300.000 đồng không xác định được bị hại).
[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều lần bị tòa án đưa ra xét xử về hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về hình sự nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng và rèn luyện mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Chị H, chị T và ông T1 không yêu cầu bồi thường về dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với biển kiểm soát 29P1-628.86, xác định là của xe mô tô nhãn hiệu Honda Drean II, chủ sở hữu là ông Vũ Đình T2, sinh năm 1956, trú tại tổ A Nhà hát N, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. ông T2 khai đã bán xe mô tô nêu trên cho người không quen biết vào năm 2021. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu xe máy vật chứng, xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda Drean II, biển kiểm soát 29P1-628.86 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; tiến hành truy tìm chủ sở hữu hiện tại đối với xe mô tô, biển kiểm soát xe mô tô trên nhưng chưa xác định được là ai. Bị cáo Đ khai nhặt được biển kiểm soát xe trên ở đường. Do đó, Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để điều tra và đề nghị xử lý sau. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, loại 256GB cho chị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, loại 128GB cho chị H; 01 xe mô tô ESPERO, số khung: RPEVCBJPEMA494907,
số máy: VDEJQ139FMBC494907 cho ông T1. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Điện thoại di động Sam sung, Nokia thu giữ của bị cáo Đ là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[10] Bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 BLTTHS.
[11] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Tạ Minh Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 27/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự.
Trả lại bị cáo Tạ Minh Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng bạc có số IMEI: 358465/09/18776/8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số seri: 353687074087922, nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Tuyết |
9
10
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Minh Đ phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
