TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/04/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng
- Ông Trần Trung Úy
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 463/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1995
- Bị đơn: Anh Lê Thành Đ, sinh năm 1995
Nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện C, TP ..( có đơn xin xét xử vắng mặt)
Thôn M, xã P, huyện C, TP ..( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 và cháu Lê Cẩm A. Hiện tại cháu Cẩm A đang ở cùng với chị, cháu Phương L đang ở cùng bố. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu C anh và cháu Phương L anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phương L.Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Lê Thành Đ:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ tại nơi cư trú theo đúng quy định nhưng anh Đ không thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của bị đơn theo quy định.
Qua xác minh ông Lê D Bộ trưởng xóm cho biết: chị N và anh Đ tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo truyền thống địa phương, vợ chồng anh chị có mâu thuẫn không thấy thông báo với chính quyền địa phương, khoản 1 tháng lại đây anh Đ có đi đám cưới và hiện tại đang ở trong đó. Nay chị N muốn ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: vợ chồng chị N, anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 và cháu Lê Cẩm A. Hiện tại cháu Cẩm A đang ở cùng với mẹ chị N, cháu Phương L đang ở cùng bố anh Đ.
Anh Đ không có nhà có nhà anh Lê Anh V em trai nhận thay, các văn bản tố tụng Tòa án tống đạt, anh V nhận thay và cam kết giao lại ngay cho anh Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Lê Thành Đ; Về con chung: giao con chung là cháu Lê Cẩm A, sinh ngày 03/7/ 2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác; Giao con chung là cháu cháu Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác ; Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Thành Đ, sinh năm 1995 tự nguyện tìm hiểu tự và đăng ký kết hôn ngày 29/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, C, Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà anh Đ, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Thành Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Bị đơn anh Lê Thành Đ cư trú tại thôn M, xã P, huyện C, Tp .. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Lê Thành Đ đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng tuy nhiên anh Đ vắng mặt không có lý do chính đáng. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Lê Thành Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 29/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Hà Nội nên hôn nhân giữa chị N và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Trên cơ sở lời khai của chị N, kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân cho thấy: Trong quá trình chung sống, giữa chị N và anh Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Trước yêu cầu của chị N xin ly hôn, anh Đ không hợp tác làm việc, không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị N xin ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
- Về con chung: Chị N và anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 và cháu Lê Cẩm A, sinh ngày 03/7/2021. Hiện tại cháu Cẩm A đang ở cùng với chị, cháu Phương L đang ở cùng bố.
Xét việc xin nuôi con chung thấy: Xét thấy cháu Lê Cẩm A đang ở cùng chị N và cháu Lê Phương L đang ở cùng anh Đ.
Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung yêu cầu của chị N việc chăm sóc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung hiện nay. Giao cháu Lê Cẩm A, sinh ngày 03/7/2021 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Giao Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị N và anh Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của chị N và anh Đ đến khi có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Lê Thành Đ.
- Về con chung: Chị N và anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 và cháu Lê Cẩm A, sinh ngày 03/7/2021.
Giao cháu Lê Cẩm A, sinh ngày 03/7/2021 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Giao Lê Phương L, sinh ngày 9/04/2020 cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Trần Thị N và anh Lê Thành Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của chị N và anh Đ đến khi có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần ly hôn. Được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001605 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Tp ..
Án xử công khai sơ thẩm, chị Trần Thị N và anh Lê Thành Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Đăng Khoa |
Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn nuôi con
