Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/DS-PT

Ngày 16-9-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhân

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thư

Ông Phạm Tiến Hiệp

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Tú Anh-Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mến-Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12, 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số 104/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 12-6-2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú bị kháng cáo

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 240/2024/QĐPT-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Tống Duy T, sinh năm 1940 “có mặt”

Nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ C, ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương

-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968 “có mặt”

Nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị H, sinh năm 1951 “có mặt”

Nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ 3, ấp Gia Biện, xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967 “vắng mặt”

Nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước

-Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Tống Duy T và bị đơn bà Nguyễn Thị X có mối quan hệ quen biết với nhau và nguyên đơn có cho bị đơn vay tiền nhiều lần với nhiều khoản vay khác nhau, cụ thể: Ngày 17 tháng 8 năm 2022, bị đơn viết giấy vay của nguyên đơn số tiền 50 triệu đồng có thời hạn, hẹn đến tháng 3 năm 2023 trả, lãi suất 3%/tháng; sau đó, ngày 20 tháng 8 năm 2022, bị đơn tiếp tục viết giấy vay của nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng có thời hạn, hẹn đến ngày 20 tháng 12 năm 2022 trả, lãi suất 3%/tháng; tổng hai lần bị đơn vay của nguyên đơn là 100.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng tiền thì nguyên đơn đã giao đủ cho bị đơn số tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó đến hạn nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả nợ vay số tiền 100.000.000 đồng này và tiền lãi nhưng bị đơn né tránh không trả nên nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả đủ số tiền vay gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là 20.000.000 đồng.

Về phía bị đơn bà Nguyễn Thị X khai và thừa nhận ngày 17 tháng 8 năm 2022 bị đơn có viết giấy vay của nguyên đơn ông Tống Duy T số tiền 50.000.000 đồng, sau đó ngày 20 tháng 8 năm 2022 bị đơn tiếp tục viết giấy vay của nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng để trả nợ và chữa bệnh cho con của bị đơn. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các hợp đồng vay tiền trên thì ngày 17 tháng 8 năm 2022 thực tế bị đơn chỉ nhận được 40.000.000 đồng do lãi suất 10.000.000 đồng/tháng nên trừ 10.000.000 đồng tiền lãi của tháng 8 năm 2022, sau đó bị đơn đã trả tiền lãi cho nguyên đơn các tháng 9, 10, 11 năm 2022 tổng cộng là 40.000.000 đồng nên bị đơn chỉ đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền vay 50.000.000 đồng ngày 17/8/2022 mà không phải trả tiền lãi do bị đơn đã trả tiền lãi cho nguyên đơn 40.000.000 đồng rồi; còn số tiền vay 50.000.000 đồng ngày 20/8/2022 và tiền lãi thì thực tế bị đơn chưa nhận được số tiền 50.000.000 đồng này nên bị đơn không chấp nhận trả cho nguyên đơn. Ngoài ra, khi vay tiền, nguyên đơn có giữ của bị đơn 03 tờ giấy bản gốc để làm tin cho việc vay tiền như sau: “01- giấy mua dăm cạo của Công ty A (140.000.000), 2- giấy mua dăm cạo của bà Hai H1 (120.000.000), 3-giấy mua dăm cạo của chị Lê Thanh X1 ở T, Bình Dương (240.000.000)”. Do đó, bị đơn có phản tố yêu cầu nguyên đơn và bà Trương Thị H là vợ của nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn 03 tờ giấy bản gốc trên nhưng không được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý để giải quyết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 12-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tống Duy T, Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Tống Duy T và bà Trương Thị H số tiền vay gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi là 18.078.000 đồng, tổng cộng là 118.078.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tống Duy T về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị X phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi là 1.922.000 đồng.

Ngoài ra, còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12 tháng 06 năm 2024 bị đơn bà Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm với nội dung yêu cầu nguyên đơn ông Tống Duy T và bà Trương Thị H trả lại cho bị đơn 03 tờ giấy bản gốc để làm tin cho việc vay tiền như sau: “01- giấy mua dăm cạo của Công ty A (140.000.000), 2- giấy mua dăm cạo của bà Hai H1 (120.000.000), 3-giấy mua dăm cạo của chị Lê Thanh X1 ở T, Bình Dương (240.000.000)”.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị X có bổ sung kháng cáo về việc không đồng ý trả số tiền vay gốc 50.000.000 đồng ngày 20/8/2022 và tiền lãi của số tiền vay gốc này cho nguyên đơn ông Tống Duy T.

Ý kiến của Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo bổ sung của bị đơn bà Nguyễn Thị X do vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, đồng thời đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước nhận định như sau:

[1] Vụ án này do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị X theo thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước theo Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:

[2.1] Về kháng cáo bổ sung tại phiên toà phúc thẩm của bị đơn bà Nguyễn Thị X về việc không đồng ý trả số tiền vay gốc 50.000.000 đồng ngày 20/8/2022 và tiền lãi của số tiền vay gốc này cho nguyên đơn ông Tống Duy T. Xét thấy kháng cáo bổ sung này của bị đơn là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu và đến thời điểm xét xử phúc thẩm ngày 12-9-2024 thì thời hạn kháng cáo đã hết nên kháng cáo bổ sung của bị đơn không được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Về kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị X yêu cầu nguyên đơn ông Tống Duy T trả lại cho bị đơn 03 tờ giấy bản gốc để làm tin cho việc vay tiền “01- giấy mua dăm cạo của Công ty A (140.000.000), 2- giấy mua dăm cạo của bà Hai H1 (120.000.000), 3-giấy mua dăm cạo của chị Lê Thanh X1 ở T, Bình Dương (240.000.000)”. Xét thấy, tại Đơn phản tố đề ngày 07 tháng 5 năm 2024 của bị đơn có yêu cầu nguyên đơn ông Tống Duy T và vợ của nguyên đơn là bà Trương Thị H có nghĩa vụ phải trả lại cho bị đơn 03 tờ giấy bản gốc trên. Tuy nhiên, Đơn phản tố của bị đơn đã bị Toà án cấp sơ thẩm trả lại tại Thông báo số 01/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2024. Cùng ngày 08 tháng 5 năm 2024 này, bị đơn có nhận được Thông báo trả lại Đơn phản tố trên nhưng sau đó bị đơn không có khiếu nại đối với Thông báo trả lại Đơn phản tố trên. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn lại tiến hành kháng cáo đối với việc trả lại Đơn phản tố của Toà án cấp sơ thẩm là không có căn cứ và không đúng thủ tục được quy định của pháp luật nên kháng cáo của bị đơn đối với vấn đề này cũng không được chấp nhận.

[3] Về án phí:

[3.1.] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị X phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn ông Tống Duy T là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận.

[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị X không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
    Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị X,
    Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 12-6-2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
  2. Căn cứ các điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tống Duy T,
      Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị X có nghĩa vụ trả đủ cho nguyên đơn ông Tống Duy T và bà Trương Thị H số tiền vay gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi là 18.078.000 đồng, tổng cộng là 118.078.000 đồng.
    2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tống Duy T về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị X phải trả số tiền lãi cho nguyên đơn là 1.922.000 đồng.
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị X phải nộp 5.904.000 đồng.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị X phải nộp 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010425 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - Toà án nhân dân huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đồng Phú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao;
  • - Lưu HS, TDS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Văn Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 174/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger