|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số:174/2024/HS-ST
Ngày: 16/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đông
Ông Nguyễn Hữu Đệ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 16/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn B, sinh năm 1984; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn D, xã L, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn Y và bà Phạm Thị M; Vợ Dương Thị T, có 01 con sinh năm 2010; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ 1; Tiền án, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền án:
Ngày 24/12/2015 bị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng tại bản án số 155/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án, được xoá án tích.
D chỉ bản số 483 lập ngày 21/05/2024 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất nhập cảnh.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty T3; Trụ sở: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Tô Xuân Đ, sinh năm 19988 – Chuyên viên an ninh công ty.
Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Trọng S, sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường N, quận L, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng tháng 09/2019, Đặng Văn B quen biết một người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) trong quá trình làm việc tại khu Công nghiệp B, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Khoảng tháng 08/2020, T2 đưa B các giấy tờ gồm: Căn cước công dân số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 17/07/2019, Giấy phép lái xe số [...] do Sở G cấp ngày 24/03/2014, Thẻ ngân hàng số 9704050783695286 mở tại ngân hàng A đều mang tên Nguyễn Trọng S (SN: 1984; HKTT: Tổ A, phường N, quận L, Hà Nội). T2 nói với B các giấy tờ trên do ông Nguyễn Trọng S cầm cố cho ông T2, ông T2 đưa cho B để B đi đường do khi đó B bị Cảnh sát giao thông giữ Giấy phép lái xe.
Sau khi nhận được các giấy tờ nêu trên từ T, B đã sử dụng các giấy tờ cá nhân mang tên Nguyễn Trọng S ký kết 02 (hai) hợp đồng tín dụng với Công ty T3 (MST: 0307672788; Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, TP T, TP Hồ Chí Minh), cụ thể như sau:
Ngày 22/09/2020, B đến cửa hàng Đ1 có địa chỉ: Số 1, đường M, phường M, quận N, Hà Nội để thực hiện hợp đồng tín dụng số 4005095467 với Công ty T3 vay mua điện thoại trả góp với số tiền 3.250.000 đồng. Nhân viên cửa hàng Điện máy xanh đã thu thập thông tin Căn cước công dân, Giấy phép lái xe, số điện thoại 0901.701.xxx và chụp ảnh chân dung của B để thực hiện hợp đồng vay này. Đến ngày 23/01/2021 B đã thanh toán xong khoản vay này.
Ngày 29/01/2021, B thấy thủ tục vay tiền tại Công ty T3 dễ, B cần tiền để sử dụng cá nhân nhưng không muốn bản thân phải chịu các khoản nợ và trường hợp không trả được nợ thì ngân hàng cũng không tìm được B để đòi nợ nên B tiếp tục sử dụng hồ sơ cũ tên Nguyễn Trọng S và số điện thoại 0901.701.xxx để làm thủ tục vay online với Công ty T3 số tiền 40.000.000 đồng theo hợp đồng số 4100484470 ngày 29/01/2021. Sau khi hồ sơ vay online đã được Công ty T3 phê duyệt và giải ngân ngày 30/01/2021 B dùng Căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng S đến Bưu cục Đ2 có địa chỉ tại: Tổ D, thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội nhận số tiền 40.000.000 đồng. B đã trả 03 lần tiền gốc và lãi với tổng số tiền 5.102.222 đồng. Còn 37.739.000 đồng (tiền gốc) B không có tiền để trả cho Công ty T3 nên đã tắt điện thoại.
Do đã đến hạn nộp tiền mà hợp đồng vay chưa được tất toán, không liên lạc được vớ B nên nhân viên của công ty T3 đã đến làm việc với ông Nguyễn Trọng S. Kết quả, ông S không phải là người trong ảnh (trong hồ sơ vay tiền) và không phải là người thực hiện hợp đồng vay tiền. Ông S cung cấp thông tin: Vào khoảng tháng 8-9/2019, ông S làm mất ví, bên trong ví có các giấy tờ như: Căn cước công dân và Giấy phép lái xe, Thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Trọng S.
Sau khi tra cứu hình ảnh người thực hiện hợp đồng vay số tiền 3.250.000 đồng, hệ thống dữ liệu của công ty T3 xác định người này là Đặng Văn B do trước đó B đã từng làm hợp đồng vay trả góp với Công ty T3. Nhân viên Công ty T3 đã đến nhà B tại thôn D, xã L, huyện C, thành phố Hà Nội để làm việc nhưng B không có mặt ở nhà, người nhà không rõ B hiện làm ở đâu nên Công ty T3 đã gửi đơn tố giác B đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ để làm rõ vụ việc.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
Của công ty T3: Hợp đồng tín dụng, lịch sử đóng tiền, hình ảnh khách hàng, hình căn cước công dân, hình giấy phép lái xe của 02 hợp đồng tín dụng số 4005095467 ngày 22/09/2020 và hợp đồng số 4100484470 ngày 29/01/2021 (bản sao)
Của Bưu cục Đ2 : 01 gốc Giấy chứng nhận trả tiền số [...] ngày 30/01/2021.
Ngày 20/03/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ có Quyết định trưng cầu giám định số 1573/QĐ-CQĐT(CSKT) gửi Phòng K - C1 đề nghị giám định chữ ký chữ viết đối với Chứng nhận trả tiền số [...] ngày 30/01/2021. Ngày 15/04/2024, Phòng K - Công an thành phố H có kết luận số: 2706/KL-KTHS kết luận : Chữ viết có nội dung “Đã nhận đủ số tiền (40.000.000)”, “Bốn mươi triệu đồng chẵn” dưới mục “THÔNG TIN DÀNH CHO KHÁCH HÀNG” và chữ ký dạng chữ viết “San”, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Trọng S dưới mục “Người nhận ký” trên mẫu cần giám định với chữ viết đứng tên Đặng Văn B trên các mẫu so sánh là chữ do cùng một người viết ra.
Đối với thông tin về chủ thuê bao: 0901701854 B sử dụng quá trình điều tra xác định Chủ thuê bao là Công ty TNHH D1.Công ty đã cấp cho B sử dụng do là nhân viên làm việc cho Công ty, bị can B sử dụng số điện thoại trên đến khoảng tháng 06/2023 đã trả lại cho Công ty TNHH D1.
Tại cơ quan điều tra Đặng Văn B đã khai nhận hành phạm tội như đã nêu trên. B thấy thủ tục vay tiền tại Công ty T3 dễ, B đang cần tiền để sử dụng cá nhân nhưng không muốn bản thân phải chịu các khoản nợ và trường hợp không trả được nợ thì ngân hàng cũng không tìm được B để đòi nợ do đó B đã tiếp tục sử dụng các giấy tờ cá nhân như: Căn cước công dân, B1 lái xe, Thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Trọng S để ký hợp đồng tín dụng với Công ty T3 để vay số tiền 40.000.000 đồng. Toàn bộ các giấy tờ mang tên Nguyễn Trọng San B2 đã làm mất. B2 đã tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Đối với ông Nguyễn Trọng S quá trình điều tra xác định ông có mất tiền và giấy tờ tuỷ thân, sau khi mất ông không báo cho các cơ quan chức năng mà đi làm lại các giấy tờ đã mất. Ông S không sử dụng cũng như không cho ai mượn các giấy tờ của cá nhân để thực hiện Hợp đồng tín dụng với Công ty T3. Ông S không quen biết, chưa từng gặp Đặng Văn B do đó không có căn cứ xác định ông S đồng phạm với B. Về mặt dân sự, ông S không có đề nghị gì
Về phần dân sự:
* Công ty T3 đại diện là ông Tô Xuân Đ (SN: 1988; HKTT: P1717-CT2C KĐTM N, X, B, Hà Nội) đề nghị Đặng Văn B trả cho công ty lại số tiền 48.296.916 đồng gồm tiền gốc 37.739.000 đồng, tiền lãi, lãi phạt quá hạn là 10.557.916 đồng theo hợp đồng tín dụng số 4100484470 ngày 29/01/2021 mà B giả mạo ông Nguyễn Trọng S vay của Công ty T3.
Vật chứng 40.000.000 đồng là tiền Đặng Văn B nộp để khắc phục hậu quả, chuyển Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 01/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Đặng Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Bị hại đồng ý cho bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả số tiền đã chiếm đoạt của Công ty T3.
Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt: Đặng Văn B từ 22 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 44 đến 48 tháng. Không phạt tiền bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Văn B tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra như: Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/1/2021, tại Thị trấn Đ, Hà Nội, Đặng Văn B đã có hành vi giả mạo ông Nguyễn Trọng S sử dụng thông tin của ông S vay 40.000.000 đồng của Công ty T3 sau đó chiếm đoạt 37.739.000 đồng của công ty bị phát hiện.
Hành vi của bị cáo Đặng Văn B đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền án năm 2015.
- Về nhân thân: Tuy tiền án đã được xoá nhưng xác định bị cáo Đặng Văn B có nhân thân xấu.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:
+ Tình tiết tăng nặng: Không
+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đặng Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt:
Hành vi Lừa đảo đoạt tài sản của bị cáo Đặng Văn B đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội trong lĩnh vực trật tự quản lý hành chính. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị nhà nước quy định là tội phạm, nhưng bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Đ nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Khi lượng hình cũng cần phải xem xét đến nguyên nhân phạm tội của bị cáo trong vụ án để có hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi. Trong vụ án này nguyên nhân bị cáo B có hành vi phạm tội xuất phát từ việc nhận được các giấy tờ cá nhân của người khác nên mới có ý định vay tiền của bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt rồi đẩy trách nhiệm trả nợ cho người khác. Tuy nhiên bị cáo đã khắc phục hoàn toàn hậu quả cho bị hại, tại phiên toà cũng như trong quá trình giải quyết vụ án đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo ngoài xã hội để trở thành người tốt cũng có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền...Tuy nhiên bị cáo hiện không có thu nhập nên Hội đồng xét xử áp không dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Đặng Văn B phải trả lại cho Công ty T3 số tiền 40.000.000 đồng mà bị cáo và Công ty T3 đã thoả thuận tại phiên toà.
Xác định bị cáo Đặng Văn B đã nộp đủ số tiền 40.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho Công ty T3 nên không cần phải nộp gì thêm.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a Khoản 3 Điều 174; Điều 65, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ: Điều 47 Bộ lật Hình sự năm 2015; Điều 106, 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Đặng Văn B 22 (hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 44 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã xã L, huyện C, thành phố Hà Nội (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trả lại cho Công ty T3 số tiền 40.000.000 đồng mà bị cáo Đặng Văn B đã nộp để khắc phục hậu quả cho Công ty T3 vào tài khoản số:
3949.0.1047882.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ theo Uỷ nhiệm chi ngày 05 tháng 08 năm 2024 giữa Công an huyện Đ và Kho bạc Nhà nước huyện Đ.
Bị cáo Đặng Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.0000đ (hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Tuyến |
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
