Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2024/HS-PT

Ngày 13-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Viết Hùng

Bà Lê Thị Thương Huyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Đăng Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 244/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024của Tòa án nhân dân Quận A phố H.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh P, Sinh ngày 07/11/1994tại T trú: 1 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh Chỗ ở: D H, Phường A, Quận H, T nghiệp: Nhân viên giao hàng Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: NamTôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh P1 (chết)và bà Nguyễn Thị Thanh H; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Thùy D và 01 con sinh năm 2023Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt, tạm giam từ ngày 13/9/2023Có mặt.

· Người bào chữa:

Ông Nguyễn Văn Q là luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh P – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh P là nhân viên giao hàng làm việc tại Bưu cục J, địa chỉ: 4 đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên C. Công ty giao 06 chìa khóa cho các nhân viên giao hàng thay nhau giữ để 07 giờ 00 hàng ngày đến mở cửa kho cho việc xuất, nhập kho. Từ tháng 6/2023, P được giao giữ 01 chìa khóa. P biết quy định của Công ty là không ai được ở lại từ đêm đến 07 giờ 00 sáng nên khoảng thời gian này Công ty không có người trông coi.

Khoảng 04 giờ 40 ngày 12/9/2023, do cần tiền tiêu xài, P điều khiển xe mô tô hiệu Airblade, biển số 59M2-701.33 đến Công ty để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, P dừng xe gần Công ty, đi bộ đến, dùng chìa khóa mở cửa Công ty vào bên trong. P ngắt cầu dao điện để tắt máy quay an ninh. Phong đến nơi để hàng giá trị cao, rồi trộm cắp 02 máy quét mã vạch và 12 gói hàng. P lấy 01 bao tải trong kho, bỏ tất cả tài sản trộm cắp vào bao tải trên. Sau đó, P đi ra ngoài, lấy ổ khóa cửa chính của Công ty bỏ vào bao tải rồi vác lên vai, đi bộ đến nơi để xe, điều khiển xe rời đi.

Sau khi trộm cắp tài sản, Nguyễn Thanh P đến nhà chị Nguyễn Thị Thanh H1, chị ruột P, địa chỉ: D H, Phường A, Quận H cất giấu tài sản trộm cắp được. P lên gác lửng, kiểm tra bao tải thì thấy bên trong có 02 máy quét mã vạch; 01 gói hàng chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro 128 Gb và hộp đựng; 04 gói hàng chứa 04 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu G, 128 Gb và hộp đựng; 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 128 Gb và hộp đựng; 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256 Gb và hộp đựng; 01 gói hàng chứa 01 máy tính bảng hiệu IPad Gen 9 và hộp đựng.

Khoảng 07 giờ 00 ngày 12/9/2023, Nguyễn Thanh P quay lại công ty, giả vờ phát hiện việc mất trộm tài sản rồi báo cho anh Nguyễn Thanh T là quản lý. Lúc 09 giờ 35 ngày 12/9/2023, anh Nguyễn Thanh Tiến t báo Công an P2, Quận A về việc bị trộm cắp 02 máy quét mã vạch; 01 gói hàng chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro 128 Gb và hộp đựng; 04 gói hàng chứa 04 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu G, 128 Gb và hộp đựng; 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 128 Gb và hộp đựng; 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256 Gb và hộp đựng; 01 gói hàng chứa 01 máy tính bảng hiệu IPad Gen 9 và hộp đựng.

Qua kiểm tra máy quay an ninh, Cơ quan điều tra phát hiện Nguyễn Thanh P có biểu hiện nghi vấn nên mời làm việc, kết quả: Nguyễn Thanh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu.

Từ lời khai của P, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét địa chỉ D H, Phường A, Quận H, kết quả: phát hiện tại gác lửng: 02 máy quét mã vạch; 01 gói hàng chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro 128 Gb và hộp đựng; 04 gói hàng chứa 04 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu G, 128 Gb và hộp đựng; 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 128 Gb và hộp đựng; 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256 Gb và hộp đựng; 01 gói hàng chứa 01 máy tính bảng hiệu IPad Gen 9 và hộp đựng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2 đã yêu cầu định giá đối với tài sản bị chiếm đoạt. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U, kết luận: 02 máy quét mã vạch, trị giá 1.800.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro 128 Gb, trị giá: 23.790.000 đồng; 04 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu Gold, 128 Gb, trị giá: 102.860.000 đồng; 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 128 Gb, trị giá: 77.220.000 đồng; 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256 Gb, trị giá: 84.495.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu IPad Gen 9, trị giá: 7.367.500 đồng. Trị giá tổng cộng: 297.532.500 đồng.

Tại Bản án số: 244/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:

Căn cứ vào Điều 50; điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2023.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 28/3/2024, bị cáo Nguyễn Thanh P có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên. Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên C như nội dung bản án sơ thẩm, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt vì là lao động chính và gia đình có công với cách mạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới để cấp phúc thẩm xem xét. Đồng thời mức án mà cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo đã nằm ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo P không tự bào chữa và không tham gia tranh luận.

Luật sư Nguyễn Văn Q bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh P trình bày: Luật sư đồng ý về mặt tội danh và điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng và xử phạt bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên là nghiêm khắc. Luật sư đề nghị xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo tại thời điểm phạm tội vợ mới sinh con và mẹ đang điều trị ung thư, đồng thời, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi toàn bộ và trả cho bị hại. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo tác động gia đình tự nguyện nộp tạm ứng số tiền 10.000.000 đồng để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường; hiện bị cáo là lao động chính, mẹ đang điều trị bệnh ung thư, gia đình có ông Trương Văn K, người nuôi dưỡng mẹ bị cáo là người có công cách mạng nên đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất quy định tại khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Đối với việc gia đình bị cáo nộp tạm ứng số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả là thấp hơn rất nhiều so với nghĩa vụ bồi thường của bị cáo với bị hại nên không có cơ sở áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với tình tiết gia đình có công với cách mạng, do ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Thanh H là mẹ bị cáo không làm thủ tục nhận con nuôi theo quy định nên bị cáo không thuộc thành phần gia đình có công với nước. Đối với các tình tiết giảm nhẹ khác đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ, do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.

Kết thúc phần tranh luận, các bên đều bảo lưu quan điểm như đã trình bày.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về lao động nuôi con nhỏ, phụng dưỡng mẹ già đang điều trị ung thư và làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an P2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh P tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
    1. Vào khoảng 04 giờ 40 phút ngày 12/9/2023, tại Kho hàng Bưu cục J&T Express, số D đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên C, Nguyễn Thanh P đã có hành vi đột nhập vào kho hàng công ty rồi lén lút chiếm đoạt 02 máy quét mã vạch, 01 gói hàng chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro 128 Gb và hộp đựng, 04 gói hàng chứa 04 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu G, 128 Gb và hộp đựng, 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 128 Gb và hộp đựng, 03 gói hàng chứa 03 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256 Gb và hộp đựng, 01 gói hàng chứa 01 máy tính bảng hiệu IPad Gen 9 và hộp đựng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt được định giá là 297.532.500 đồng. Số tài sản chiếm đoạt được, P mang về cất giấu tại nhà D H, Phường A, Quận H của Nguyễn Thị Thanh H1 thì bị Cơ quan Điều tra khám xét, lập biên bản thu giữ.
    2. Bản án sơ thẩm số: 24/2024/HS-ST ngày 14-3-2024 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  4. Xét nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
    1. Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và đồng ý bồi thường cho bị hại quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đã nộp số tiền 10.000.000 đồng để đảm bảo một phần nghĩa vụ bồi thường cho bị hại nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm cũng xem xét thêm tình tiết tài sản chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại để ghi nhận tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo theo quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    2. Đối với tình tiết gia đình có công với cách mạng mà bị cáo và luật sư đã trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy, do ông Trương Văn K và bà Nguyễn Thị Thanh H không có quan hệ huyết thống và ông K cũng không làm thủ tục nhận bà H con nuôi theo quy định nên bị cáo không thuộc thành phần gia đình có công với nước, do đó, không có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
    3. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng nên xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P và sửa bản án sơ thẩm. Lập luận trên đây cũng là căn cứ chấp nhận một phần quan điểm đề nghị của luật sư về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
  5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P và sửa Bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung, năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2023.

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng mà bị cáo Nguyễn Thanh P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004968, ngày 05/6/2024 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của bị cáo với bị hại trong vụ án.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND quận 11; (2)
  • - P.V06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Trại tạm giam (Chí Hòa) (2)
  • - THADS quận 11; (1)
  • - TAND quận 11; (2)
  • - Công an quận 11; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 174/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh P, bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger